HỒi KÝ CHUYẾN HÀNH HƯƠNG
ẤN ĐỘ - NEPAL
và 3 ngày du lịch ở Thailand từ 1-12-05 đến 23-12-05

Tôi có một ước vọng là trong cuộc đời tôi được một lần đi đến đất Phật.

Ước nguyện mấy năm không thành tựu vì bạn bè thân thích đổi ý.  Lần này tôi quyết định đi đến đó, dầu chỉ có một mình tôi theo đoàn không ai quen thuộc.

Nghe tôi đi bạn bè đều cản, có người nói chỗ đó đang có nội chiến, kẻ lại nói có động đất ở đó, người lại nói nơi đó thiếu vệ sinh, muỗi nhiều, đi qua đó nhiễm bệnh chết.  Kẻ nói đi qua Nepal đường xấu lại quá xa, nhức đầu, đau lưng và bụi bặm lại nhiều.  Chị có đi em ở nhà tụng kinh cầu an cho chị.  Riêng gia đình tôi thì không một ai cản trở.

Bây giờ trở về lại Mỹ, tôi vẫn khỏe mạnh.  Tôi nhận thấy rằng tôi được một đại nhân duyên, một đại phước báu nên mới được một Phật tử thân thương báo tin có đoàn đang tổ chức đi dự lễ khánh thành chùa “Việt Nam Phật Quốc Tự” ở Nepal và được đi chiêm bái bốn thánh tích “TỨ ĐỘNG TÂM” do Thượng Tọa Thích Huyền Diệu trụ trì Việt Nam Phật Quốc Tự tổ chức.

Giờ đây lòng tôi rất vui mừng sung sướng và nhận thấy rằng: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”

Ngày 1-12-05 Phái đoàn hôm ấy gồm có 18 người luôn cả Thượng Tọa Thích Thiện Tâm trụ trì chùa Duyên Giác người hướng dẫn phái đoàn Phật tử từ California (Mỹ quốc) sang Ấn Độ.  Chúng tôi tập trung tại chùa Duyên Giác lúc 7 giờ tối dưới cơn mưa tầm tã. Đến 8 giờ xe bus mới tới, chúng tôi lên xe trực chỉ về phi trường San Francisco.

Rời phi trường lúc 12:05 đêm đó tức là đã qua ngày 2-12-05 chúng tôi lên China Airline đến Taipei (Đài Bắc) để rồi từ đấy sang Bangkok (Thailand). Đến Thái đổi máy bay của Ấn Độ đi về Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng).  Ấn Độ là một nước lớn đứng hàng thứ bảy trên thế giới, đất rộng người đông, diện tích 3,3 triệu cây số vuông, dân số gần một tỉ người. Đến phi trường Gaya mới có 3:40 chiều giờ địa phương, trời còn sáng sủa để quan sát phi trường nhỏ nơi đây.  Thủ tục quá chậm chạp, lãnh hành lý xong  thì trời đã tối.  Chúng tôi gặp Thượng Tọa Thích Huyền Diệu đợi sẵn có cả xe bus ở đó để đưa chúng tôi về chùa.

Thầy đeo vào cổ mỗi người một xâu chuỗi dài kết bằng hoa vạn thọ màu vàng để chứng tỏ lòng Thầy hân hoan chào đón phái đoàn đến đất Phật nơi xứ Ấn và cũng là nơi mà Thầy từng sống 38 năm qua.

Thay vì đi thẳng về chùa Việt Nam Phật Quốc Tự của Thầy, thì Thầy cho chúng tôi ghé lại Bồ Đề Đạo Tràng trước.

Vừa vào cổng, Thầy kêu tất cả bỏ giày để đi chân không vào Đại Tháp. Đây là Thánh tích thứ hai* nơi Đức Bổn Sư Thích Ca thành đạo.

Ngôi Đại tháp to lớn và cao vòi vọi hiện đang trùng tu.  Thầy giảng giải:  7 tuần lễ đức Phật ngồi nơi cây Bồ Đề ở đây rồi đắc đạo, nhưng không phải Ngài chỉ ngồi ở một chỗ, mà Ngài ngồi 7 nơi.  Thầy dẫn chúng tôi đi đủ 7 nơi để giảng giải nhưng tựu trung cũng xung quanh gần cây Bồ Đề và tuần lễ cuối cùng Ngài đã đắc đạo dưới cội cây Pipala phía sau Đại Tháp và sát bên tháp.  Cây cổ thụ Pipala được đặt tên là cây Bồ Đề, có nghĩa là “Giác Ngộ, Bodhi tree”. 















Theo sự mô tả của Ngài Tam Tạng  Huyền Trang thì Đại tháp Bồ Đề được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 sau công nguyên theo mô hình một Đại tháp tại Miến Điện, hình tứ giác, cao khoảng 50 mét.  Cây Bồ Đề ngày xưa nơi Đức Phật ngồi không phải là cây hiện tại.  Do sự ganh tị của những người khác đạo, muốn tiêu diệt cho mất dấu vết Phật giáo, họ đã đốn cây đó đi, thời gian sau có người đến xứ Thailand xin nhánh về trồng lại.  Nhánh nầy cũng chiết từ nhánh của cây Bồ Đề gốc mà người Thailand vì hâm mộ đức Phật nên đã xin nhánh cây đó về trồng tại Thailand.

Cây thứ 2 khi lớn lên cũng bị họ đốn đi và còn đào bứng cả gốc.  Rồi cũng có người đến Thái Lan xin nhánh về trồng lại.  Cây Bồ Đề hiện tại nơi Bồ Đề Đạo Tràng ngày nay là cây cháu chắt của cây mà đức Phật đã ngồi cách đây trên  hai ngàn năm.

Nhưng tuổi thọ của nó chắc cũng đã mấy trăm năm rồi, vì gốc rất to lớn, cành lá sum sê rợp bóng; đặc biệt là nhánh dang thẳng ngang ra như cánh tay đưa ra để che mát một khoảng sân rộng, tư thế như che chở cho hàng trăm Phật tử ngồi dưới tàng cây đang lễ bái.

Xung quanh gốc có rào che kín không một ai có thể vào được.  Tôi nhìn nhánh cây vươn dài ra, vòng tròn thân nhánh cũng khoảng một ôm của tôi. Nhìn lên thân cây bỗng tôi nhớ lại lời cổ nhân:
“Lâm trung tự hữu thiên niên thọ. Thế thượng nan lưu bá tuế nhơn.”

Nghĩa là trong rừng kia có cây sống cả ngàn năm, nhưng đời người có
mấy ai sống được trăm tuổi.  Thật vậy con ngưới qua sự biến đổi của
cuộc đời, của nhân duyên nên giai đoạn thành, trụ, hoại, không, nhiều lúc ngắn hơn là cây cối hay những động vật khác nữa.  Xung quanh Đại tháp cũng có rất nhiều tháp nhỏ.

Thầy Huyền Diệu có đưa chúng tôi đến cái hồ mà hôm sau chúng tôi được phóng sanh cá ở đó. Đấy là một hồ nước rất lớn, xung quanh có thềm tráng xi măng.  Gần cuối hồ có xây tượng Đức Phật Bổn Sư Thích Ca ngồi trên tòa sen và bậc đá cao, sau lưng ngài có hình con rắn lớn cất cao cổ, phồng mang che đầu Ngài vào một đêm mưa bão sấm sét.
























Xem xong chúng tôi được Thầy cho ra xe về chùa.  Dọc đường Thầy có dặn không nên cho những người ăn xin nơi đây tiền, vì họ đông lắm, họ  vây chặt mình không lối thoát, không thể bước đi được.  Họ làm phiền mình và mình làm phiền trong đoàn, mình sẽ cho họ vào một dịp khác. 

Quả đúng như lời Thầy, người ăn xin chạy theo quá đông, có người tàn tật lê lết sát dưới chân tôi, họ cứ ở trước tôi, tôi qua trái họ qua trái, tôi sang phải họ cũng sang phải.  Họ dùng hai tay chống lết theo tôi. Không thấy tôi cho tiền, họ đánh thật mạnh vào chân tôi như nhắc nhở làm tôi đau điếng.  Vả lại tôi rất sợ đạp trúng bàn tay của họ nên không dám đi nhanh.  Thấy vậy chú phó đoàn lại kéo tôi đi vì tôi bị cách ly với đoàn.

Lúc lên xe tôi bùi ngùi cảm xúc nhớ lại bài học của thuở học trò:  “Con ơi! con đừng bao giờ bước qua một kẻ khó mà không cho gì hết”.

“Một miếng khi đói bằng một gói khi no,
Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng,
Của là muôn sự của chung,
Sống không thác lại tay không có gì”.

Mấy phút sau thì đã tới chùa, chúng tôi được chú phó đoàn phân phối 3 người một phòng.  Trong đó có 3 giường, nệm, gối, mùng, mền đầy đủ, một phòng tắm luôn cả nhà cầu như trong khách sạn.

Tắm rửa và cơm nước xong, Thầy Huyền Diệu cho biết Thầy phải trở về chùa bên Nepal trong đêm nay để đón phái đoàn khác, hẹn chúng tôi ngày 9-12-05 Thầy sẽ trở lại đưa chúng tôi đi vài nơi và qua Nepal. 

Thầy Huyền Diệu cất được 2 kiểng chùa Việt Nam Phật Quốc Tự thật to lớn.  Một cái ở gần Bồ Đề Đạo Tràng vào năm 1980 đến 2002 mới khánh thành  (22 năm).  Một Việt Nam Phật Quốc Tự lớn hơn, tại vùng Lâm Tỳ Ni xứ Nepal, nơi Đức Phật đản sanh và ngày 17-12-05 làm lễ khánh thành tại chùa thứ 2 nầy (trải qua 16 năm dài).












Ngày 4-12-05  Sáng nay chúng tôi cùng Thầy Thích Thiện Tâm thả bộ ra Bồ Đề Đạo Tràng để xem lại quang cảnh xung quanh và viếng các chùa gần đó, luôn cả chùa Viên Giác của Thầy Thích Như Điển ở Đức sang xây dựng. Đến trưa, lội bộ về chùa bằng đường tắt trên bờ ruộng. 

Chùa Việt Nam Phật Quốc Tự ẩn hiện trong đám cây xanh, thấy đó mà đi quanh bờ ruộng rất xa khoảng trên 20 phút mới về đến chùa.  Ruộng ở đây đắp bờ như ruộng ở Việt Nam, lúa mới cắt còn phơi dưới ruộng chưa đập làm tôi liên tưởng về cố hương:

“Nhắn gió gởi mây về bên ấy”
Lòng tôi gói trọn một niềm thương”
                        
Chiều lại chúng tôi ra chánh điện để lạy Phật.  Chùa này rất lớn, mái ngói cong cong đó là đặc thù văn hóa của người Việt Nam.  Tất cả vật liệu đều mua từ Việt Nam chở sang.  Lần lên nhiều bậc tam cấp mới vào tới chánh điện.  Chúng tôi đang lễ lạy thì bỗng nghe có tiếng  chuông đại hùng công phu chiều vang lên. Tiếng chuông huyền diệu trong cảnh tịch mịch buổi chiều tà nơi Việt Nam Phật Quốc Tự như đưa tôi về với cõi hư không, làm tôi nhớ lại vài câu thơ của ông Chu Mạnh Trinh lúc viếng chùa Hương:

“Thoảng bên tai một tiếng chày Kình,
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng”.

Ngày 5-12-05  Đi sông Ni-Liên-Thiền và viếng ngôi tháp thờ Đức Bổn Sư Thích Ca có cô bé dâng sữa, nhưng hôm ấy tôi không đi, vì nghe nói đi Bồ Đề Đạo Tràng.

Ngày 6-12-05 Sáng sớm hôm nay được thông báo trước là đi phát cháo cho người nghèo.  Tôi mừng quá vì làm bất cứ một việc thiện nào dù nhỏ mấy tôi cũng không bỏ qua. 

Vừa ra khỏi chùa không xa lắm, xe chạy trên một chiếc cầu dài, nhìn ra hai  bên thấy cát mênh mông, tôi nói: Ở đây lại có sa mạc.  Bạn tôi bảo đó là sông Ni-Liên-Thiền đã đi hôm qua mà chị không đi.  Sông nầy bề ngang cũng rộng, hai bên bờ có hàng cây như là bờ sông vậy.  Những nhánh sông nhỏ tách đi cũng có hai hàng cây hai bên nhưng đặc biệt không có nước chỉ toàn là cát.  Bà Sâm nói: “Mười mấy năm trước tôi lội qua sông nầy, nước cao tới đầu gối, lên bờ có cái gì dính vào chân tôi chiếu lấp lánh”.















Than ôi! Vạn vật đều vô thường, cũng chính nơi nầy khi xưa nhật nguyệt soi mình in đáy nước, mà giờ đây biển thẫm hóa cồn dâu!

Kể về sông Ni-Liên-Thiền.  Khi xưa Đức Phật ngồi dưới  cội cây tu khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn vài hạt mè, thân thể Ngài gầy còm, còn xương bọc da.  Ngài đã kiệt sức, lúc đó có một cô bé chăn dê đem dâng cúng dường cho Ngài một chén sữa.  Uống xong Ngài thấy khỏe lại và xuống tắm ở sông Ni-Liên-Thiền.  Tắm xong, Ngài thấy trong người rất khỏe khoắn.  Ngài nguyện rằng:  “Nếu ta tu mà không thể đắc đạo, nguyện cho cái bát nầy trôi luôn theo dòng nước”.  Nói xong Ngài quăng cái bát xuống dòng sông, thì lạ thay cái bát trôi ngược trở lại.  Ngài vớt lên và đổi cách tu, không ép xác khổ hạnh nữa.














Xe đi rất xa, nhiều tiếng đồng hồ, đường gập ghềnh, gồ ghề sỏi đá, chú phó đoàn nói:  “Chúng ta đi viếng Khổ Hạnh Lâm”.  Nơi đây nhà cửa lụp xụp thưa thớt, đất cát khô cằn.  Gần đến nơi  là núi non trùng điệp, chúng tôi xuống xe đi lên núi, dọc sườn núi thấy có khoảng trên 10 người ăn xin ngồi sẵn ở đó, chú phó đoàn kêu họ xuống núi để lãnh cháo và tiền.

Tôi được một cậu bé đưa cho cây gậy, nhờ gậy làm tha lực giúp tôi, vậy mà tôi cũng đuối sức, tôi hỏi chú phó đoàn còn bao xa nữa.  Chú bảo đừng hỏi cứ đi và niệm Phật, chú kéo tay tôi trợ sức. 

Xa xa trên đỉnh non cao đã thấy thấp thoáng một ngôi nhà trắng, tôi hỏi chú phó đoàn mình có lên tới đó không? Chú bảo cứ đi đừng hỏi.  Gần tới động sát bên nhà trắng có lẽ là nhà hay chùa của người Tây Tạng.  Chúng tôi leo lên mấy bậc tam cấp dốc đứng thì tới hang đá.  Bên ngoài hang người ta có làm khung cửa tô xi măng để che mưa gió.  Chui vào trong hang đá cảnh vật lờ mờ dưới ánh sáng lập lòe của vài ngọn nến, tôi thấy hai nơi thờ Phật, kế bên đó có hai người ngồi chắp tay trông không rõ.  Tôi bái xá cúng dường rồi trở ra. Từ trên núi nhìn xuống quan sát một bên là núi non trùng điệp, còn một bên là đồng khô cằn cỗi, đất cày lên sỏi đá, tôi nghĩ dân ở đây không biết làm sao mà sống.
               















Xuống tới chân núi thì thấy số người ăn xin tập trung ở gần xe bus cũng ngoài trăm người.  Cho họ cháo và tiền xong, chúng tôi lên xe quay về.  Một số trẻ đã chạy theo xe rất xa mong mỏi có người hảo tâm liệng tiền xuống, nhưng chúng tôi phải giữ an toàn cho chúng nó.  Nhớ lại nơi Khổ Hạnh Lâm thật đúng với câu “Sáu năm khổ hạnh rừng già.

Bao nhiêu hiểm nguy chờ chực:  thú dữ, lạnh lẽo, nắng mưa, đói rét, đau ốm…nhưng không gì làm nản chí Ngài, quyết tâm đạt được Phật quả.

Ngồi trên xe tôi liên tưởng lúc đoàn người:  Leo đỉnh Khổ Hạnh Lâm.

Qua bao nhiêu núi bấy nhiêu sông
Lặn lội lên non chẳng sờn lòng
Dốc đá cheo leo đâu ngại khó
Thương Thầy thương Phật sá chi công.

Trên con đường trở về có lẽ xe chạy qua một ngã khác nên khi qua cầu sông Ni-Liên-Thiền nhìn ra hai bên thấy có nhiều cầu bắc qua sông, có nơi vẫn còn chút nước, có nơi bị cát bồi.

Ngày 7-12 - 05 Hôm nay Thầy Thiện Tâm trưởng đoàn dẫn chúng tôi
đi núi Linh Thứu. Ăn sáng xong chúng tôi lên xe, dọc đường chú phó đoàn nói: có hai ngã lên núi Linh Thứu. 

Một là đi bộ từ chân núi lên, hai là đi xe treo bằng dây cáp.  Nhưng con đường thứ hai nầy là đến chùa Nhật và từ đó đi bộ qua núi Linh Thứu.  Tôi muốn đi bằng xe treo cho biết cả hai nơi.

Chùa Nhật và một ngôi tháp đồ sộ to lớn do người Nhật xây cất trên núi cao thăm thẳm.

Đến đây mới thấy được công phu lao tác của những người khổ  công xây dựng nên nó.  Họ đem từ viên gạch, miếng ngói, sắt đá cát, xi măng, cây và dụng cụ lên đỉnh non cao để dựng chùa.

Tôi thầm khen phục và nhớ đến lời thơ của ông Chu Mạnh Trinh lúc đi thăm chùa Hương có đoạn:

Lần tràng hạt miệng Nam Mô Phật.
Cửa từ bi công đức biết là bao.
Nhìn xem phong cảnh càng yêu……..

Đi vòng quanh chân tháp và chùa Nhật, tôi vội vã theo bạn xuống núi. Đường tráng xi măng tam cấp nên cũng dễ đi.  Không đợi đến ngã ba giáp đường lên núi Linh Thứu, họ băng tắt qua những lối đi trơn trợt, tôi chẫm rãi bước theo, bỗng có tiếng nói phía sau: “Nam Mô A Di Đà Phật”, nhìn lại tôi thấy một chú bảo vệ người Ấn ăn mặc như cảnh sát đến nắm cánh tay tôi dìu đi.

Vừa dứt câu niệm Phật chú ấy nói “Mô…….Phật” kéo dài chữ Mô làm tôi bật cười vì giọng chú nói rất rõ như người Việt Nam.  Khi đến giáp con đường lên núi Linh Thứu thì dễ đi hơn, vì đường cũng tráng xi măng từng bậc.  Cứ vài phút chú ấy niệm lên lớn tiếng “Nam Mô A Di  Đà Phật”, tôi cũng lập theo.  Nhờ thế mà lên gần đến đỉnh, chú chỉ núi lõm vào như cái hang và nói:  “Xá Lợi Phất”.  Tôi chụp một tấm ảnh ở đó để kỷ niệm rồi theo chú lên tận đỉnh. Chú cho biết chú đi từ chùa Nhật núi bên kia, đến núi Linh Thứu nầy mỗi ngày 6, 7 lần, còn tôi chỉ đi có một lần là đã rụng rời cả đôi chân.














Nơi đây chúng tôi cùng Thầy Thiện Tâm tụng một thời kinh.  Thầy nói núi Linh Thứu là nơi đức Phật giảng kinh Pháp Hoa đầu tiên.

Đứng trên núi Linh Thứu nhìn về hướng phải trên đỉnh núi cao hơn một chút, tôi nhìn thấy đỉnh tháp Nhật cách núi nầy cũng xa.  Tôi không ngờ rằng tôi đã đi được từ đó sang đây vì tôi cũng đã  ngoài “thất thập cổ lai hi” rồi.

Có lẽ nhờ Phật lực gia trì và cũng nhờ chú bảo vệ dìu phụ.  Rõ ràng chúng tôi đang đứng trên tầng mây và nơi đỉnh núi nầy không có cây cối bao phủ.  Lần bậc tam cấp xuống một cái hang nhìn lên thấy trời vì không có đá che, tôi nhớ bài thơ đi thăm chùa Hương của ông Chu Mạnh Trinh:
Bầu trời cảnh Bụt
Thú Hương Sơn ao ước mấy lâu nay
Kìa non non nước nước mây mây
Đệ nhất động hỏi là đây có phải?
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lững lờ khe yến cá nghe kinh.
…………………………………
Nhác trông lên ai khéo vẽ nên hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thấp thoáng một hang lồng bóng nguyệt
Chập chờn uốn khúc mấy thang mây.














Xuống núi chúng tôi đi đến nhà tù do đứa con ngỗ nghịch là A Xà Thế nhốt vua cha Tần Bà Xa La để chiếm ngôi.  Nơi đây chỉ còn một vòng chân tường, nơi một góc tường lúc trước đào lên còn thấy cái còng.

Công cha cao tợ núi non
Làm con sao chẳng nhớ ơn sinh thành
Đắm chìm trong chốn lợi danh
Mê say tham dục đoạn đành tình cha

Ra xe chúng tôi tiếp tục đi suối nước nóng mà ngày  xưa đức Phật đã tắm ở đó. 

Dọc đường đến một cánh rừng nhỏ, xe vừa ngừng lại, một đàn khỉ trong rừng chạy ra như để kiếm ăn.

Suối nước nóng ngày nay được xây cất lại đẹp đẽ, qui mô rộng lớn, có thể  chứa chỗ đứng khoảng vài chục người.

Về đến chùa thì đêm đó Thầy Huyền Diệu cũng vừa trở về.  Thầy báo cho biết đồ gì không cần thiết thì để lại, còn bao nhiêu đem theo Nepal vào 7 giờ sáng hôm sau.

Ngày 10-12-05 Sáng nay Thầy Huyền Diệu dẫn đoàn chúng tôi đi viếng trường đại học Nalanda.  Trước khi đến đó, Thầy cho xe ngừng lại trước một ngôi tháp lớn và kể lịch sử của ngôi tháp nầy mà khi xưa đức Phật đã giảng pháp nơi đây cho 5 anh em Kiều Trần Như nghe. 














Tôi mải mê đi xuống xe để chụp vài tấm ảnh kỷ niệm nên không nghe được bài giảng của Thầy.  Xe đã đến trường đại học.


























Trường đại học Nalanda là một khu đất rộng có hai hàng cây vô ưu trồng dài từ cổng vào tận trường.  Trường được xây cất vào thế kỷ thứ 5 và hoạt động đến thế kỷ thứ 12 sau công nguyên.  Nơi đây bao la mênh mông những địa danh bằng đá đỏ, gạch đỏ và chỉ còn lại là những nền cũ thời xa xưa ghi dấu một thời Phật giáo hưng thịnh.  Bây giờ vẫn còn một số người chăm sóc, quét lá, nhổ cỏ, tưới cây rất đẹp mắt và sạch sẽ.

Xem xong Thầy đưa chúng tôi về chùa Miến Điện nghỉ.  Thật sự chúng tôi ở trong một khách sạn sát chùa trong một dãy lầu 3 tầng  chia nhiều phòng, mỗi phòng có 3 giường đầy đủ tiện nghi, có lẽ là khách sạn của chùa.

Vùng này thuộc thành Ba La Nại, nơi đây nổi tiếng về tơ lụa.

Ngày 11-12-05  Sáng sớm hôm nay Thầy trò chúng tôi đi viếng sông Hằng.  Trời chưa sáng tỏ, chúng tôi đã tới sông Hằng.  Xuống xe đi bộ
vào con hẻm nhỏ, chúng tôi gặp vài người ăn xin còn ngủ rải rác đó 
đây.  Họ nằm co ro trong manh chiếu rách, kế bên là một con chó cũng ngủ ở đó, đằng kia một con chó khác nằm ấp ủ 4, 5 chó con cận một người ăn xin khác.  Người nằm đây và vật cũng nằm đây trông thật thảm thương chua xót, mà hình ảnh nầy cũng làm cho tôi kinh sợ vì nhớ đến câu ca dao:

Bởi xưa kiếp trước khéo tu
Kiếp này nên được võng dù xuê xang
Bởi vì kiếp  trước vụng tu
Kiếp này vất vả lù khù lang thang.

Đang nghĩ vẩn vơ về nghiệp và nhân quả, bỗng có tiếng một cô trong đoàn kêu lên:  “Bác ơi coi chừng đạp phân bò”, rồi cô rọi đèn pin cho tôi đi tránh làm tôi giựt mình trở về thực tại.  Bờ sông rất cao phải xuống nhiều tam cấp mới tới nước.

Bình minh trên sông Hằng.  Trời còn mờ sương, chúng tôi đi trong cái lạnh, nhưng đến nơi đã thấy một tốp hơn 10 người đứng dưới nước giặt đồ.  Họ là những người giặt mướn, họ giặt giống như thời xa xưa, nhúng đồ xuống nước dở lên đập xuống tấm ván gần bờ.  Thỉnh thoảng họ dùng khúc cây đập đập lên quần áo như trong phim Tàu.

Thầy cho xuống ghe ra khơi, sông Hằng cũng lớn rộng, nước cũng bình thường không dơ, không đục lắm.  Người lái đò dùng chèo tay đưa chúng tôi đi dọc theo sông.  Thỉnh thoảng có vài ghe đem cá lại bán cho Thầy.  Thầy mua cho chúng tôi phóng sanh và đốt đèn thả trên sông.  Thầy kêu ai có vái gì thì cứ vái. 

Riêng tôi thì cầu nguyện cho những vong linh thiêu đốt ở đây được vãng sanh về Cực Lạc quốc. Một lát Thầy chỉ cho xem hai đốm lửa bập bùng xa xa trên bờ, đó là hỏa táng người chết.  Thiêu xong họ đưa tro cốt thả trôi theo dòng nước.  Kế bên là những chiếc ghe bán củi đậu ở đó. 

Thầy cho biết đặc biệt là đàn bà con gái không được đi theo dự lễ hỏa táng.  Chúng tôi hỏi tại sao có sự phân biệt như vậy.  Thầy nói vì phái nữ đi theo hay cảm xúc khóc lóc kể lể không tốt.  Chúng tôi hỏi Thầy tại sao nữ giới Ấn Độ có chấm đỏ giữa chân mày?  Thầy nói đó là mấy cô gái còn độc thân làm duyên thì họ chấm tròn, đàn bà thì chấm dài, có người muốn phô trương là mình yêu chồng tha thiết thì chấm thật dài lên tận trán.










































Bỗng Thầy kêu mọi người nhìn về hướng Đông để xem mặt trời mọc.  Chúng tôi ngó sang bờ bên kia, mặt trời đã lên cao khỏi ngọn cây như một cái đĩa  tròn lớn, màu vàng sắc tươi đỏ trông rất đẹp, rất dễ nhìn vì chưa có ánh chiếu chói chang.  Giá như không nhìn thấy cảnh lầm than của kiếp nhân sinh, thì cảnh vật thiên nhiên nầy thật là thơ mộng và hữu tình biết mấy.

Ghe đã quày về bến, chúng tôi theo Thầy đi ăn sáng.  Thả bộ đi qua một thành phố cũng khá đông đúc, đường sá rất dơ vì rác rến.  Thỉnh thoảng một con bò không người chăn hồn nhiên đi trên đường phố chẫm rãi bước giữa đám người như đi dạo.  Nó không sợ người, mà người cũng không sợ nó, xem đây là sự tự nhiên của xứ họ không có gì khó chịu.

Đến một nơi tôi thấy một người đàn bà tay trái cầm một đống đất nhão, tay phải bốc lấy một bốc rồi quăng lên một bức tường rất dài, dính bẹp ra hình dáng như cái bánh tiêu lớn.  Họ làm rất chuyên nghiệp, phút chốc không còn một chỗ trống nào trên tường cả.  Tôi hỏi: “Bà đó làm gì vậy?” Bà Sâm nói: “Họ phơi phân bò.” “Chi vậy?” “Để chụm lửa nấu ăn” “Rồi hôi đồ ăn làm sao?” Bà nói:  “Trái lại nó không hôi gì cả.”

Xin xem tiếp
Khói bên tay trái,
chỗ màu trắng, một nhóm người đang hỏa táng người chết.