Tìm Phật Ở Đâu?

Giác Hương Lê Diễm Trinh

Vài dòng cảm nghĩ:

Từ nhiều năm qua, vào mỗi dịp hè, Khóa Nghiên Tu An Cư được tổ chức tại Tổ Đình Từ Quang, Montréal, Canada, dưới sự chứng minh và chỉ đạo của Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thượng TÂM Hạ CHÂU, Thượng Thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới, dành cho tứ chúng (Tăng Ni và nam nữ Phật Tử) khắp nơi trên thế giới vân tập về tu học kinh luật luận, qui y thụ giới, hành thiền, niệm Phật, tụng kinh, bái sám, bố tát, công quả tu phước, cúng dường trai tăng, thực hành giới định tuệ, nghiêm túc văn tư tu, thảo luận trao đổi kinh nghiệm tu học.

Bên cạnh phần giảng kinh, giáo luật, thuyết pháp, giảng giáo lý do Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thượng Thủ và chư Tôn Đức đảm trách, đặc biệt còn có phần Tham Luận do Ban Hoằng Pháp Tổ Đình Từ Quang thực hiện. Phần Tham Luận này năm nào cũng nghiêm túc đầy hào hứng, sôi nổi trong thanh tịnh, ngắn gọn và súc tích, với những công trình biên khảo, nghiên cứu giá trị, công phu của quí vị nam nữ Phật gia Cư sĩ, gồm đủ thành phần thức giả, học giả, chuyên gia, nhân sĩ địa phương, cũng như các vị Trưởng lão Cư sĩ đến từ phương xa.

Phần Tham Luận giúp ích tứ chúng sáng tỏ thêm Chánh Pháp vi diệu của Đức Thế Tôn, nhứt là phần thực hành, áp dụng Chánh Pháp vào trong cuộc sống hằng ngày một cách thiết thực, gần gũi và  lợi lạc.

Chúng con thành tâm đảnh lễ tri ân giáo dưỡng trời biển của Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Ân sư. Chúng tôi thành tâm đảnh lễ tri ân công đức lớn lao không thể nghĩ bàn của Ban Hoằng Pháp Tổ Đình Từ Quang. Và tri ân tất cả Quí Vị thiện tâm đóng góp công sức.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết mới nhất của một vị nữ Phật gia Cư sĩ nói trên: Đạo Hữu Bồ Tát giới Giác Hương, Lê Diễm Trinh.

Thích Chân Tuệ


Theo lịch-sử thì đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni đã nhập-diệt từ hơn 2500 năm, nói chính-xác hơn là đã 2550 năm, và chúng-sinh đang ở vào thời mạt-pháp. Tuy kinh-sách vẫn còn lưu-truyền song tâm chúng-sinh hình như đã “hời-hợt” với Phật-pháp. Hằng tuần tuy cũng có Phật-tử đi chùa, ăn chay, thắp hương, lễ Phật, song cái hướng Phật, cái hình-bóng của ĐỨC PHẬT BÊN TRONG hình như thấy xa-xôi ở tận một cõi nào khó với tới, xa-xôi về thời-gian, không-gian và cả tâm-lý nữa!

Vì sao? 
Vì Phật-tử chúng ta cứ hướng ra bên ngoài để tìm Phật, hay nói như trong kinh Kim-Cang thì Phật-tử “dĩ sắc kiến Phật, dĩ âm-thinh cầu Phật” cho nên có lúc chúng ta tưởng in tuồng như đức Phật đang an-nghỉ ở một cõi tịch-tịnh nào và quên bẵng chúng ta! Một thứ cảm-nghĩ thật trẻ con, như đứa bé 4, 5 tuổi, khi thấy mẹ vừa bước một bước ra cửa để ngó qua đàn gà hay thăm chừng cái áo phơi ngoài sân, là nó vội hốt-hoảng, phụng-phịu muốn khóc, nghĩ ngay là mẹ muốn bỏ rơi mình rồi!

Trong các kinh luận (như Hoa-Nghiêm Nguyên-nhân luận) có nói thời-gian một ngày một đêm ở cõi trời Tứ-Thiên-Vương, thấp nhất của 6 cõi Dục-giới mà đã dài bằng 50 năm ở trái đất này, nghĩa là đối với họ đức Thích-Ca chỉ mới nhập-diệt độ một năm rưỡi. Và cứ như thế, thời-gian ở các cõi trời càng lên cao, phước-báo càng nhiều thì càng dài hơn. Thí-dụ như một ngày một đêm ở cõi trời Dục-giới thứ sáu, Tha-hoá Tự-tại thiên, dài bằng 800 năm ở thế-gian, cho nên họ cảm thấy đức Phật Thích-Ca nhập-diệt chỉ độ mới có hơn 3 ngày một chút! Còn ở trên các cõi Phật thì ngày đêm không biết dài bao cùng sánh với cõi nhân-thiên vì phước-báo ở các cõi Phật là vô-lượng, vô-biên, cho nên khi Ngài Trí-Khải đại-sư tu chứng, nhập được vào Pháp-Hoa tam-muội, Ngài thấy đức Phật vẫn còn đang giảng kinh Pháp-Hoa ở đỉnh Linh-Sơn!

Đó là nói về luận-lý, còn về thực-tế thì người ta thấy một ngày một đêm dài 24 giờ. Buổi sáng sáu giờ sáng thức dậy, đến sở làm lao-động “vinh-quang một lèo” 8 tiếng, đến chiều về đã thấy “lưng mỏi gối chồn”, một ngày vất-vả thấy nó lâu làm sao, huống hồ cả trăm cả ngàn năm!

Con người nghèo thì lo chạy miếng ăn, giàu thì lo chạy kiếm thêm tiền, thêm danh, thêm “tình”, đến khi về hưu thì lo chạy chơi, lo đi du-lịch chỗ này chỗ kia kẻo trễ, còn thì-giờ đâu để nhớ đến đức Phật, cái gì là giải-thoát, cái gì là vãng-sinh!

Những người không theo đạo Phật không biết đến đức Phật là điều dĩ-nhiên, song chính Phật-tử chúng ta cũng có người vì lo sinh-kế, cho đến sức khoẻ của bản-thân họ còn không lo hay không có thì-giờ đi “check-up” huống hồ là đi chùa, đi chiền, thậm chí khi nghe đến ngày mồng 8 tháng tư, hỏi là ngày gì? Có người đáp không biết, có người “hiểu biết” hơn đáp hình như là ngày thứ 8 sau ngày mất nước 30 tháng 4. Tuy nhiên hỏi ngày 25 tháng 12 là gì thì ai cũng biết ngay là ngày Noël, ngày Xmas, ngày đức Chúa giáng-sinh. Thật là buồn cho đức Phật! Cám cảnh “mạt thế”, một thi-sĩ hình như là một thiền-sư có bài thơ tựa đề “Linh-Sơn Hội-Thượng buồn”, xin được chép ra như sau :

Mây tỏa Linh-Sơn Hội-Thượng buồn,
Thế-Tôn khuất bóng, bóng chiều buông
Sương bao-phủ, đâu miền Thiên-Trúc?
Tuyết lệ mờ khóc mảnh trăng suông!
Sinh-chúng bơ-vơ đàn nhạn lạc,
Phật-thừa thất pháp gió mưa tuôn.
Hoại, thành tam-giới nào ai biết,
Mây tỏa Linh-Sơn Hội-Thượng buồn! (1)

Nói như vậy có bi-quan lắm không, chẳng lẽ trong thời mạt-pháp này không còn có Phật, không còn cứu-độ, vậy tại sao trong kinh-sách nói nơi nào còn chúng-sinh khổ thì còn có Phật, Bồ-tát, vì đạo Phật là đạo từ-bi, cứu-khổ mà? Như vậy thì trong thời mạt-thế này thử hỏi:

“Tâm chúng-sinh nào đâu hướng Phật?
Như-Lai gì dụng-độ hữu-tình?” (2)

Kính thưa quý vị,
Người viết chỉ là một Phật-tử sơ-cơ, chưa đọc được đôi phần Đại-tạng, không biết Pali-ngữ, không thông Hoa-ngữ, Nhật-ngữ, không dám phân-tích, so-sánh Phạn-tạng, Hán-tạng, không dám giảng kinh, luận sách.

Tôi chỉ mới đến với đạo Phật qua “cảm-tính”, qua các câu chuyện nhân-gian mộc-mạc nhưng đầy xúc-cảm đức từ-bi, nhẫn-nhục của Phật Bà Quan-Âm, qua hình-ảnh thật hiền-hậu, ưa cứu-vớt chúng-sinh của “Ông Bụt”, hay qua hình-ảnh vui tươi của “Ông Phật cười” hay “Ông Phật nhiều con” (hóa-thân đức Di-Lặc). Và như thế tôi đi chùa, lễ Phật, thậm chí còn dám soạn bài, tập “nói chuyện Phật” vài lần ở chùa nữa. Xin cảm ơn Hoà-Thượng Tôn-sư đã từ-bi dạy bảo, cho phép nói, và Ban Hoằng-pháp Tổ-đình Từ-Quang đã khuyến-khích.

Đức Phật ở trong tôi thật là đơn-giản, bình-dân, thật là gần-gũi và thân-thương, chứ không huyền-bí, xa-xăm khó hiểu gì! Và bây giờ xin phép quý vị cho tôi vâng lời dạy của Hòa-Thượng Tôn-sư để kể lại cho quý vị nghe một câu chuyện thật 100% vì nó là câu chuyện của chính tôi, không phải đứng bên ngoài chứng-kiến mà đã tự trải qua và chính Hòa-Thượng Tôn-sư cũng có “dự phần” và chứng-minh.

Kính thưa quý vị,
Con người quả là một cây sậy với đủ cái nghĩa yếu-ớt của nó. Không yếu-ớt thì làm sao mà có khi chỉ vì một cơn gió lạnh thổi vào mặt đã có người bỗng bị méo miệng cả đời do bại liệt bắp thịt của nửa mặt (paralysie faciale a frigore), có người hôm trước trông còn “phây phây”, hôm sau nghe nói đã “ra đi” (tai-nạn, đột qụy, trụy tim...) cho nên người xưa có câu: “bảy mươi chưa què, không khoe hàng xóm”. Tây thì có câu: “qui sait jamais”!

Vào một ngày đầu tháng 12 năm 2005, vì trời lạnh, bệnh thấp gối (arthrite rhumatoide) của tôi tái phát. Thuốc Tylenol chỉ làm bớt đau một chút, thuốc chống sưng (anti-inflammatoires) tuy hiệu-nghiệm song gây rất nhiều phản-ứng phụ (effets secondaires), sẵn có thuốc chống đau loại mạnh, tôi tự lấy và uống thử một liều.

Nhưng không may, liều này không phải là liều thuốc mà là “liều mạng”, vì không ngờ cơ-thể tôi bị dị-ứng (allergique) với loại thuốc này. Cái việc tự trị và tự thử thuốc có lẽ là cái “nghiệp” của những người khám bệnh cho thuốc, và câu chuyện sau đó đã chuyển-biến thật bất ngờ. Xin mời quý vị theo dõi... Chỉ độ 15 phút sau khi uống thuốc chống đau vào, tự-nhiên bao-tử bóp mạnh, bao nhiêu đồ ăn trong dạ-dày bị đẩy ra hết, vậy mà ói mữa vẫn liên-miên, hết đồ ăn rồi đến mật xanh, mật vàng... cả người bỗng mất hết sức lực còn yếu hơn cây sậy. Thở không ra hơì, tôi chỉ còn kịp bắt điện-thoại kêu cầu-cứu ông xã tôi.

Ông xã tôi lập-tức chạy về nhà, thấy tôi nằm trên giường mà tâm-trí tôi đã “phiêu-phiêu”. Vừa khám sơ tim, mạch, phổi, ông xã tôi liền kêu ngay ambulance và theo xe chở tôi vào bệnh-viện cấp-cứu. Một đoàn y-tá, bác-sĩ bao chung quanh tôi, rồi thì nào là theo thứ-tự A.B.C: cho thở dưỡng-khí, chuyền tĩnh-mạch, monitoring tim phổi, quang-tuyến, điện-tâm-đồ (ECG), điện-não-đồ (EEG), sau này còn có CT Scan não, MRI, rồi thì thuốc-men chuyền “soluté” liên-tiếp. Không biết thời-gian trải qua bao lâu trong một không-gian bao cùng, thỉnh-thoảng chỉ nghe những tiếng như từ chốn xa-xăm kêu gọi, mở mắt ra, tôi thấy nhà tôi, các con tôi, các bác-sĩ, nhân-viên cứu-cấp tấp-nập chung quanh, rồi tôi rơi vào cái “không” (tức là không biết gì), gọi là hôn-mê cũng được. Kéo dài 12 giờ... 24 giờ, tôi vẫn trong cơn mê-tỉnh chập-chờn.

Những ống dây chuyền tĩnh-mạch lủng-lẳng chung quanh giường bỗng nhiên biến thành những sợi dây loé sáng màu đỏ như máu, tủa ra chung quanh mình như một bức mành bao vây! Những chiếc găng tay phe-phảy trong cái hộp gắn vào tường bỗng nhiên biến thành những cánh tay, những bàn tay của bầy tiên-nữ đang múa. Những bức tranh treo trên tường trước mặt bỗng nhiên linh-động với những em bé đang chạy nhảy trong một vườn hoa nở đẹp.

Thật là kỳ-lạ, thân-thể người bệnh lúc ấy chắc-chắn cực-kỳ đau-đớn vì sau này nghe thuật lại, đêm đó tay chân tôi luôn giãy-giụa, người luôn dao-động, có lẽ do phản-ứng thuốc tác-động lên não-bộ? Người ta phải cột chặt tay chân và chích thuốc chống co-giật cho tôi, song nhớ lại thì lúc đó tâm-trí mình vẫn yên-ổn, nhẹ-nhàng, phiêu-lãng, hay là lúc ấy cái “hồn phách” đã phần nào xuất ra khỏi xác thân tứ-đại thô-kệch, nặng-nề này? Rồi bỗng nhiên một cảnh-giới quen-thuộc của gia-đình hiện ra. Ai kìa trông thân-thương quá!

Có phải là ba me tôi không? Phải rồi! Nhưng tôi nhớ họ đã mất từ lâu rồi mà! Ba me tôi niềm-nở đón tiếp tôi, như người con đi xa mới về. Chúng tôi đang hàn-thuyên với nhau đủ thứ chuyện thì lại thấy có cậu em tôi, đã mất từ cả năm nay, cậu ấy cũng đến thăm tôi, cả nhà thật là vui!

Song có một điều kỳ lạ là tuy vui sum-họp, song tôi vẫn biết họ đã chết và cũng mường-tượng linh-cảm mình đang ở trong cảnh-giới cận-kề cái chết. Tôi nhớ lại những những điều mình đã đọc ở đâu đó là lúc đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni nhập-diệt thì Ngài nằm nghiêng người sang phía bên phải (3) rồi tôi cũng nhớ hình như có nghe nói rằng người sắp chết nên xoay mặt về hướng Tây, hướng của đức Phật A-Di-Đà. Không biết sao lúc ấy tôi cứ đinh-ninh là xoay người về bên phải thì mặt mình sẽ hướng về hướng Tây, cho dù người ta có sửa cho tôi nằm ngửa, tôi cũng cố xoay người nghiêng về mặt!

Gia-đình chúng tôi đang vui-vầy cười nói với nhau, hình như lúc ấy chúng tôi có nói với nhau về chuyện đời và cả chuyện đạo nữa. Bỗng nhiên tôi thấy từ xa có bóng-dáng của một người thân quen đi đến, thì ra đó là Hòa-Thượng Tôn-sư (4). Gương mặt Ngài thật từ-bi, cười tươi rạng-rỡ, tay trái cầm một bịch kẹo. Tôi thấy Ngài đến nên thật vui mừng, đứng dậy xá chào và khoe rằng:

- Hòa-Thượng biết không, nãy giờ con đã khuyên mọi người kể cả những người Tây y-tá ở đây cũng niệm Phật theo con!

Rồi tôi đứng dậy chắp tay niệm Nam-mô A-Di-Đà Phật và kêu mọi người hãy cùng tôi niệm Phật. Tôi thấy ba me tôi, em tôi, lại thấy những người Tây cũng đứng lên chắp tay niệm Nam-mô A-Di-Đà Phật. Cùng lúc ấy nghe trên thinh-không có tiếng của rất đông người đồng niệm ...Nam-mô A-Di-Đà Phật... Nam-mô A-Di-Đà Phật... Không-khí giống như khi tôi tham-dự khóa niệm Phật, tổ-chức vào những ngày thứ bảy ở Tổ-đình Từ-Quang, mặc dù thuở ấy tôi không đi đều hằng tuần và cũng không đi đủ các khoá này!

Hòa-Thượng tươi-cười khen: - Giỏi! Giỏi!
Nhưng Ngài lại bảo: - Thôi! “chơi” bấy nhiêu đủ rồi, giờ hãy theo Thầy đi về!

Tay phải Ngài cho vào bao nắm một vốc kẹo ra dấu và nói: - Hãy đến đây, Thầy cho kẹo nougat! Đoạn Ngài quay lưng đi. Tôi thấy thế cũng vội đứng dậy nói “bye bye” với mọi người và chạy theo Hòa-Thượng.

Đó là “cảnh-giới và câu chuyện” mà tôi đã thấy trong đêm thứ hai rạng sáng thứ ba của cơn hôn-mê. Sáng ngày thứ ba, tôi đã hơi tỉnh lại, có nói chuyện chút chút, song ăn không được, nuốt vào là muốn bị nôn mửa. Các bác-sĩ chuyên-khoa nói rằng nếu qua 3 ngày mà bệnh-nhân chưa tỉnh thì não-bộ có thể bị tổn-thương! Buổi chiều thứ ba, nhà tôi điện qua Mỹ để xin trình Hòa-Thượng nhưng không gặp Ngài. Mãi đến gần 8 giờ tối, Hòa-Thượng mới về chùa (5) và được biết sự-việc. Ngài vội điện-thoại trực-tiếp đường dây vào phòng bệnh-nhân, thời may lúc ấy người ta đang đánh thức cho tôi ăn súp tối nên tôi khá tỉnh-táo. Tôi không nói được nhiều, chỉ nghe loáng-thoáng tiếng Hòa-Thượng an-ủi và dặn-dò: - Con hãy ráng ăn-uống, tịnh-dưỡng. Ở bên này hàng ngày Thầy sẽ cầu-nguyện cho con được mau bình-phục!

Tôi thưa: - Bạch Thầy, con hiểu. Con xin tuân lời và cám ơn Thầy!
Và từ bữa sáng thứ tư, như một phép lạ, tôi đã ăn uống lại được, tỉnh-táo, khoẻ nhiều, và bác-sĩ cho ngưng chuyền tĩnh-mạch. Sang ngày thứ năm, tôi đã đứng dậy, tự mình đi tới đi lui được, và sang ngày thứ bảy bác-sĩ đã ký giấy cho tôi xuất viện về nhà.

Nghĩ dưỡng bệnh tại gia 3 tuần lễ, tuy tôi đã trở lại phòng mạch để làm việc như cũ, song nhớ lại những gì đã “sống” qua mấy tuần rồi, thấy cuộc đời mình hình như đã chuyển sang một khúc quanh khác, nói theo từ “chuyên-môn” của giáo-lý Tây-Tạng là đã qua một “bardo” khác (6).

Qua những tài-liệu nghiên-cứu của các giới khoa-học và y-khoa và qua những giáo-lý Tây-Tạng về thiền-định và sự chết thì khi một người bị bệnh nặng hay bị thương-tổn về não-bộ, hay vào trạng-thái nhập thiền thì họ sống qua một bardo khác, bardo này có thể ngắn hạn hay dài hạn tùy trường-hợp. Lúc vừa “xuất” khỏi xác-thân tứ-đại đang đau-đớn, họ cảm thấy nhẹ-nhàng như trút khỏi một “bao phục”. Rồi họ thấy những thân-nhân đã mất đến với mình. Đó chỉ là giai-đoạn đầu của “kinh nghiệm cận tử” (7) còn có thể “trở về” được (réversible). Đến giai-đoạn thứ hai, khi thấy “chui qua một con đường hầm dài” thì người ấy vào trạng-thái hôn-mê sâu dày hơn, khó phản-hồi được (8).

Kinh-nghiệm của tôi, nếu quả đó là “kinh-nghiệm cận-tử” thì chỉ là giai-đoạn đầu, tuy thế nó đã đủ chuyển-đổi cách nhìn và quan-niệm về cuộc đời của mình: Có phải chăng ta không thể tách rời cuộc sống của mình với cảnh-giới mà “trong đó” ta đang sống? tâm ta với ta và với thế-giới ta đang sống là một (9) và nếu ta tin chắc được TÂM TA và TÂM PHẬT là Một như kinh-sách đã dạy thì TA và PHẬT không xa nhau lắm đâu. Có phải chăng “thực chất” của cái sống và cái chết là “không thật”, vì đôi khi ta không biết mình đang sống hay đang trong mơ? (10).

Tất cả nó có vẻ như một tấn tuồng, và người đóng tuồng phải thực đóng cho trọn vai trò của mình trong một khoảng thời-gian có hạn để rồi mình được “lãnh lương”, được nghĩ “vacances”, rồi “tu-nghiệp” một thời-gian (ở đâu đó?) để “lấy sức” trước khi đóng tiếp một vai tuồng khác khó hơn, cứ như thế đến khi nào mình trở thành “đạo-diễn” mới thôi. Có phải như thế chăng??? Tâm-tư còn vương-vấn những suy-tư, những thắc-mắc, cho nên chờ cho đến khi vài tuần sau đó, khi Hòa-Thượng vừa trở về Tổ-đình Từ-Quang, tôi vội xin yết-kiến Ngài để được tham-vấn trực-tiếp. Tôi trình Hòa-Thượng:

- Kính bạch Thầy, những điều con đã trải qua như thế có phải là “kinh-nghiệm cận-tử” không?

Hòa-Thượng đáp: - Đúng vậy! Đó là một cảnh của “cận-tử nghiệp”.
Tôi hỏi tiếp :

- Bạch Thầy! Còn đêm đó con gặp Thầy trong cảnh kia là do con tưởng-tượng ra hay là chính Thầy đã đến?
Hòa-Thượng đáp :

- Phải, chính là Thầy! Khi tâm ta đã đủ cảm tất có cảnh “cảm-ứng đạo-giao” hiện ra.

Có điều khá kỳ-lạ là trong giai-đoạn “cận tử nghiệp” đó, sự niệm Phật đã đến với tôi như một phản-xạ. Không biết tại sao lúc đó tự-nhiên trong “tiềm-thức” (?) bỗng tự nổi lên tiếng niệm “Nam-mô A-Di-Đà Phật” liên-tiếp, hình như một hiện-tượng “automatique” rồi lập-tức tôi nghe và thấy những người, cảnh chung quanh cũng biến-hiện theo tâm niệm Phật (9).

Tôi thấy ba me, em tôi và cả những người Tây cũng cùng tôi chắp tay đồng loạt niệm Nam-mô A-Di-Đà Phật. Vì thế lúc ấy tôi mới khoe với Hòa-Thượng (dĩ nhiên cũng là một ảnh-hiện trong tâm tôi) rằng: “Hòa-Thượng thấy con có giỏi không?”. Bất giác lúc ấy tôi cảm thấy đức Phật, Hòa-Thượng, mọi người trong cảnh-giới đó đều rất gần-gũi, vỗ-về đối với tôi, hay gần như là một đối với tôi (11). Có phải chăng khi con người lúc vừa thoát khỏi sự chi-phối của xác thân tứ-đại thô-kệch và bệnh-hoạn này thì sẽ ở trong một cảnh-giới “cộng thông” như vậy? Giá như mọi người lúc còn mang xác thân nặng-nề này mà có được cái cảm-giác an-bình, nhẹ-nhàng ấy một cách lâu dài thì thế-giới này chắc không có chiến-tranh và sự hung-ác.

Tôi viết ra bài này là theo lời dạy của Hòa-Thượng Tôn-sư. Chắc-chắn đây không phải là một bài “pháp” cao-siêu đầy thuật-ngữ khó hiểu của khoa-học, toán-học, vật-lý như nào là “bức-xạ hóa thạch, hạt ảo, hệ phi-tuyến, lý-thuyết siêu dây...” (12) ; cũng không phải là những danh-từ triết-học, pháp-luận cao-thâm như “đồng-thời cụ-túc tương-ưng, nhân đà-la-võng cảnh-giới, bí-mật ẩn-hiện câu thành ...”(13). Cái cảnh mà tôi đã thấy nó thật dễ hiểu, thân-cận, ngây-thơ như “Nam-mô A-Di-Đà Phật, Hòa-Thượng Tôn-sư, ba me, em, y-tá Tây, kẹo nougat...” thế mà đối với tôi, nó có một sức mạnh “di sơn đảo hải”, nó có thể lôi-kéo một chúng-sinh từ trong cảnh cận-tử-nghiệp trở về đời sống hiện-kiếp, từ biên-giới của cận trung-ấm-thân trở lại cảnh-giới của hiện-ấm.

Nói như vậy nghĩa là nếu đủ duyên, nó cũng có thể thu-nhiếp trung-ấm-thân của một chúng-sinh vào cảnh-giới vãng-sanh của đức A-Di-Đà chăng? (14). Và như thế chúng ta có thể thông-cảm được ý-nghĩa cao-thâm của một vài câu trong kinh Phổ-môn như “...hoặc bị tù xiềng-xích, tay chân bị gông-cùm, nhờ sức niệm Quán-Âm, xổ tung được giải-thoát...” hay một câu trong kinh Thủ-Lăng-Nghiêm “vũ-trụ thiên-hà đại-địa hiện ra ở trong TÂM chỉ như là một gợn mây trong hư-không”, và Phật ở đâu? Nếu ta cứ “bung ra”, dùng mọi kiến-thức, tìm-tòi, suy-luận, hướng ra bên ngoài để “dĩ sắc kiến NGÃ, dĩ âm-thanh cầu NGÔ thì há chẳng phải là tu ngoại-đạo ư? (15).

Đến đây đệ-tử xin được thành-kính đỉnh lễ chư Phật, chư Bồ-Tát mười phương, thành-tâm sám hối nếu có hý-luận về Phật-pháp, vì Phật-pháp cao-thâm không thể nghĩ bàn.

Thành kính đỉnh lễ Hòa-Thượng (4) đã chứng-minh và giải-đáp những thắc-mắc của đệ-tử.

Kính thưa quý độc-giả,
Người viết xin thành-thật ghi lại những điều nghe thấy này, xin quý độc-giả coi nó như nghe một người kể lại giấc mơ mình thấy đêm qua. Nếu có đem lại một giây phút hứng-thú hoặc gây được cho quý vị một chút tăng-trưởng trong tín-hướng vào Phật-pháp, vào Phật-lực thì xem như người kể đã đạt được nguyện-vọng của mình.

Nguyện-cầu Tam-bảo gia-hộ cho tất cả Phật-tử chúng ta, dù đang sống trong thời mạt-pháp, song nếu giữ được niềm tin vào Phật-tánh trong mỗi một, cái Phật-tánh ấy không hề suy-giảm do thời-gian hay không-gian (16). Tâm chúng-sinh nếu không mạt thì lúc nào cũng còn là thời Chính-pháp. Khi đó chúng ta sẽ được tự quy-y Phật, tự quy-y Pháp, tự quy-y Tăng ở trong tâm mình.

Trong tín-hướng và trong tinh-thần đó, Phật-tử chúng ta hân-hoan mừng đón Đại-Lễ Phật-Đản PL.2550.

NAM-MÔ BỔN-SƯ
THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT
Giác-Hương

------------------------------------
(1) Mạt thế (thơ Quang-Âm, Sưu-tập Thi-văn Hoa Đạo).
(2) Kệ Pháp-Hoa (Sưu-tập Thi-văn Hoa Đạo).
(3) Kinh Đại-Bát Niết-bàn (tập 2, phẩm 27). 
(4) Đại-Lão Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu, Thượng-Thủ GHPGVN Trên Thế-Giới, kiêm Viện-Chủ Tổ-Đình Từ-Quang Montreal, Canada.
(5) Chùa Quan-Âm (Mỹ).
(6) Tạng-thư sống chết (Sogyal Rinpoche, Ni-sư Thích-Nữ Trí-Hải dịch).
(7&8) (NDE) Near Death Experiences, Life after Life, Dr. Raymond Moody.
(9) Nhất-thiết pháp duy tâm tạo (kinh Hoa-Nghiêm).
(10) Nhất-thiết hữu-vi pháp, như mộng-huyễn bào-ảnh (Kinh Kim-Cang).
(11) Lý tâm-cảnh vô-nhị.
(12) Cái vô-hạn trong lòng bàn tay (L’infini dans la paume de la main, Matthieu Ricard & Phạm-Xuân-Thuận, Editions Robert Laffont)
(13) Mười huyền-môn: Trật-tự của thế-giới trong tương-quan vô-tận (Thích-Tuệ-Sỹ).
(14) Lời nguyện thứ 18 của đức Phật A-Di-Đà.
(15) Kinh Kim-Cang (đoạn 26: Pháp-thân phi tướng)
(16) Kinh Bất-tăng bất-giảm (dịch-giả Thích-Trí-Thủ).
------------------------------------------------------
Thư của Cư-sĩ Giác-Hương Lê-Diễm-Trinh
gửi PHTQ, ngày 11-3-2006:

Nam-mo Bon-su Thich-Ca-Mau-Ni Phat,

Kinh thua Thay Chan-Tue,

Duoc dh Hoang-Huu Nguyen-Van-Phu 'forwarded' cho la thu cua Thay cung voi viec moi cac cu-si trong Ban Hoang Phap To-dinh Tu-Quang Montreal huong-ung dong-gop bai-vo cho Tap-san Phat-Hoc Tinh-Quang mua Phat-Dan, Phat-tu xin kinh chuc mung su tinh-tan hoang-phap cua Thay va cua TT Phat-hoc TQ.

Phat-tu cung duoc doc va hoc-hoi rat nhieu qua bai giang ve "Chu TAM trong dao Phat", voi nhung tai-lieu da^~n-chu+'ng kinh-sach that day-du, cong-phu. Xin tan-than cong-duc cua Thay.

Nhan day Phat-tu xin gui Thay bai viet TIM PHAT O DAU? ma Phat-tu du-dinh se duoc noi chuyen o To-dinh Tu-Quang trong thang 4/2006 nay, truoc de kinh tang Thay va xin chi-day bo-tuc them, neu can, sau la coi nhu dong-gop bai-vo cho Tap-san mu`a Phat-Dan cua TT Phat-Hoc Tinh-Quang.

Xin gioi-thieu the^m de Thay nho+' den mo^.t dh quen trong Ban Hoang-phap cua To-dinh Tu-Quang, nguoi ma` trong bai nay go.i la` "o^ng xa~ to^i" la` BS Nguyen-Thanh-Long (Giac-Tam). Chinh dh Giac-Tam doc la thu cua Thay pho-bien qua email va khuyen-khich nguoi viet nen huong-ung dong gop mot bai viet TS Phat-hoc Tinh-Quang.

Xin kinh chuc Thay Chan-Tue than-tam thuong an-lac, tri-tue tang-truong, phuoc-duc tron ven.

Nam-mo A-Di-Da Phat
Phat-tu Giac-Huong, Le-Diem-Trinh
NB: Bai nay viet bang VPS font.
-------------------------------------------------