Người Phật Tử Nên Sợ Cái Gì Nhất
Giác Tâm Nguyễn Thành Long

Con người và những động vật đều biết sợ. Một con chim tuy đang chăm chú mổ xới đất tìm mồi song lúc nào cũng cảnh giác, thỉnh thoảng ngưng mổ, ngó dáo dác chung quanh xem có chi nguy hiểm không để vù bay kịp lúc vì nó biết sợ.

1) Vậy sợ là gì?
a) Sợ là một phản ứng tự nhiên của bản năng sinh tồn để tự bảo vệ mình. Sợ là một linh cảm đến trước khi con người hay con vật bị một đối tượng tác hại. Cái linh cảm này ở loài vật thì gọi là 'đánh hơi', nó nhạy hơn ở người, có lẽ con người nhờ trí thông minh biết tạo và được ở trong một môi trường an toàn hơn loài thú. Người ta nói rằng khi trong đêm tối trời, một người thợ săn vừa bước vào bìa rừng, dù anh ta có nín hơi nhón gót đi thật nhẹ cũng đủ đánh thức linh cảm của bầy chim đang ngủ và làm chúng hoảng sợ bay tán loạn.

Hình như chúng 'đánh hơi' được cái tư tưởng muốn sát hại của người thợ săn? Cũng giống như hồi trận sóng thần xảy ra ở Indonesia vào cuối năm 2004, trước đó nhiều tiếng đồng hồ, các loài thú ở chung quanh gần vùng thiên tai (voi, ngưạ, chồn...) hình như đã linh cảm trước nguy cơ cho nên phần lớn chúng chạy trốn trên những vùng thật cao nên ít bị thiệt hại.

b) Sợ cũng giống như mọi xúc cảm là một thứ cảm giác chủ quan đứng trước một đối tượng. Cùng là một chiếc xe đi qua đèo mà người chuyên lái xe đua thì thấy thích thú coi như được thử thách, còn người thì run sợ bị tai nạn. Điều đó là do có sự khác biệt trong sự đánh giá chủ quan mức độ hiểm nguy của mỗi một đối với đối tượng hay hoàn cảnh trước mắt mình.

2) Đó là phần tâm lý, giờ xin nói về những phản ứng sinh học thần kinh (bioneulogoly) của cơ thể. Khi có một hiện tượng bất thường xuất hiện trước mắt  mà ý có thể nghĩ là nguy hiểm cho mình (dù không chắc chắn) thì liền phát sinh một cảm giác bất an, biến thành một 'luồng thần kinh' chạy thẳng lên một trung khu đặc biệt ở trên não, tại một chỗ nổi gồ lên gọi là thalamus dịch là đồi não, rồi từ đó phát xuất ra 2 luồng thần kinh khác: một luồng ngắn chạy trực tiếp đến một hạch não giống như hạnh nhân, gọi là amygdale, ở đây như là một cái trạm gác cổng biên giới nơi xét thẻ thông hành, nó chận tất cả những thông tin chưa được phân tích về đối tượng lạ kia chờ một luồng thần kinh dài chạy lên các vùng võ não (dụ cho cơ quan cảnh sát), và một trung khu não đặc biệt có hình cá ngựa nên gọi là hippocampe (dụ cho cơ quan mật vụ), ở đây mọi thông tin được phân tích kỹ lưỡng.

Nếu xét thấy đối tượng lạ không nguy hiểm thì OK, còn có hung hiểm thì ra lệnh cho 'trạm gác cổng' amygdale phát động một loạt những phản ứng sinh lý để phòng vệ cơ thể như kích thích hệ giao cảm và tuỷ thượng thận tiết ra chất adrenaline làm tim đập nhanh, phổi thở mạnh, để tăng dưỡng khí trong máu làm não sáng suốt, nhạy cảm, tăng huyết áp để ngừa cơ thể không bị kích ngất; chất cortisone được võ thượng thận tiết ra để cơ thể chịu đựng được 'stress'; các mô mỡ được 'đốt' nhanh để tăng năng lượng…

Cho nên người đang sợ thì tim đập nhanh, thở dồn dập, tay chân run rẫy, nổi da gà, môi mặt tái xanh... Còn nếu cơn sợ vượt quá mức chịu đựng thì mọi phản ứng chống cự, tấn công biến thành phản-ứng 'rút lui, ẩn mình' tức là huyết áp xuống thấp, tim đập nhẹ và bị ngất xỉu, thân không nghe đau, không biết gì. Đó là lúc cơ thể tạm chấm dứt với ngoại giới, không chấp nhận bất cứ tín hiệu gì của bên ngoài, chỉ duy trì sự sống cơ bản của tim, phổi, não. (1)

3) Chúng ta qua phần thứ ba là nói về con người thường sợ những cái gì?
Vấn đề này cũng thuộc chủ quan và có nhiều phạm trù:

a) Sợ tùy theo tuổi tác, thí dụ hỏi một đứa con nít 5 tuổi xem nó thường sợ những cái gì, nó sẽ đáp khác với điều sợ của một người già 70 - 80 tuổi. Ở tuổi còn bé 4 - 5 tuổi, con nít Việt Nam thường sợ 'Ông kẹ' mặc dù chưa đứa nào thấy qua 'Ông kẹ', đó chỉ là do người lớn doạ mà tạo cho chúng một đối tượng mơ hồ để sợ thôi. Theo khoa phân tâm học Tây phương trẻ con từ 3 đến 4 tuổi do giới tính mà có khuynh hướng thích người cha hay mẹ khác giới với mình và ganh với người cha hay mẹ cùng giới với mình. Cái thuyết này là do Freud một tâm lý gia nổi tiếng người Áo, cha đẻ của khoa phân tâm học Tây phương gọi là đó là mặc cảm Oedipe, lấy tên của một vị vua trong thần thoại bi kịch Hy Lạp.

Điều đó gây ra cho đứa bé lúc lớn lên lúc khoảng 6 - 7 tuổi một thứ sợ căn bản trong tiềm thức gọi là sợ bị lấy mất giới tính của mình (complexe de castration) và một hình thái của nó là sợ xa mẹ, sợ trường học. (2)

Đó là theo tâm lý học Tây phương, còn trong đạo Phật thì thấy điều này xảy cho thần thức của một chúng sinh từ lúc nhập thai, do nghiệp lực cõi dục giới thúc đẩy nên khi một thần thức tìm thân để tái sinh trong 49 ngày sau khi chết thì tùy theo nghiệp chiêu cảm, nếu là nam thì nhập thai vì có ái lực với mẹ, còn nữ thì nhập thai vì có ái lực với cha. (3 )

Đó là những cái sợ theo tâm lý bình thường, khi đến tuổi trưởng thành thì tự nhiên đứa bé tự có cá tính và đời sống riêng của nó. Còn có những cái sợ theo tâm lý đặc biệt và nó có thể theo mình cả đời như sợ chiều cao, sợ trong phòng kín, sợ đi lạc, sợ nhện, sợ ngựa. v.v... có lẽ là trong những kiếp quá khứ họ đã kinh-qua những tình huống bất an giống những trường hợp đó. Riêng dân Việt Nam chắc sợ chó sói lắm?!

Bây giờ xin nói tiếp: qua đến tuổi trung niên, vì đang độ sung sức, lo tạo sự nghiệp của riêng mình, những người tuổi trẻ ít bị nhiều sợ sệt ám ảnh, có chăng là lo bị mất jobs, hoặc đôi trường hợp sợ mất vợ, mất chồng (do bỏ nhà lo đi làm quá!). Sau khi về hưu, 'anh-hùng thắm mệt', người ta mới lo nghĩ về sức khoẻ, bệnh tật và tuổi già. Người lớn tuổi sợ bị mất tôn nghiêm, sợ cô đơn. Cô đơn vì con cháu đã trưởng thành sẽ 'chắp cánh bay đi', cô đơn vì người bạn đời của mình rồi cũng đến lúc sẽ phải ra đi, hoặc chính mình ra đi trước! Nếu không có một chỗ nương tựa nơi gia đình con cháu ấm cúng và thông cảm,  không có một lý tưởng sống vững chắc 'tri thiên mệnh', hay không có một lối thoát cho tâm linh, con người dễ chìm dần trong sự trầm cảm và nỗi lo sợ chết. Đó là nói về cái sợ của người đời thường.

b) Bây giờ xin nói đến cái sợ của những người có kinh nghiệm sống hay có mức độ tu dưỡng tâm linh:

* Có những người tuy còn trẻ, song vì nhìn thấy hay biết những  người lúc về già thường bị những nỗi lo sợ, đau khổ như cô đơn, bệnh tật bị xem thường... cho nên từ lúc còn trẻ, còn khoẻ, họ siêng năng làm việc cho sự nghiệp cho tương lai, song họ tập sống điều độ, không phung phí sức khoẻ, tiền bạc, không nhậu nhẹt say sưa hay rượu chè cờ bạc trác tráng, họ hy vọng 'plan' khi về hưu thì còn sức khoẻ, và dành dụm làm sao cho lúc đó trong trương mục đã đủ tiền (bao nhiêu?) để họ được 'enjoy' càng sớm càng tốt.

* Ngoài chuyện kinh nghiệm sống, có những người nhờ túc duyên đặc biệt, do tình cờ nghe một câu nói, một câu kinh, bỗng đổi quan niệm sống, biết tri túc, thiễu dục, lo tạo phước đức hay công đức hoặc đi chùa, ngồi thiền, niệm Phật, cúng dường Tam-bảo... Dù chưa hoàn toàn dứt trừ được lòng tham, song vì tin có nhân quả báo ứng nên họ 'chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành', và 'vô tình' dần dần thành một Phật tử đúng nghĩa.

4) Qua đến phần thứ tư là cũng là đề tài chính: Người Phật tử nên sợ cái gì nhất?
Có câu: 'Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt' hay 'giấy không gói được lửa'.

Một cái nhân đã gieo xuống rồi thì sớm hay muộn gì cũng có ngày nó nở thành quả, dù cho lúc đó người tu đã được chứng ngộ mà nếu không nhập vô dư y Niết bàn thì cũng vẫn bị luật nhân quả chi phối. Như có vị thiền sư dù đã kiến tánh rồi mà cũng bị nạn do giặc cướp vào chùa đâm chết (4). Lại mấy trăm người giòng họ Thích Ca tuy được chính Đức Phật ba lần hiện thân cứu, song vì nghiệp nhân quá nặng nên rồi vẫn bị quân của vua Tỳ Lưu Ly tiêu diệt! (5)

Còn chuyện cuộc đời của Mục Kiền Liên Tôn giả cũng rất đặc biệt. Kinh sử ghi rằng tuy Tôn giả đã chứng đắc quả A La Hán, có thần thông đệ nhất trong thập đại đệ tử của Phật, song vào những ngày cuối cùng của cuộc đời, Ngài bị nhóm ngoại đạo lõa thể Ni Kiền Tử mướn bọn cướp giết người tập-kích, đánh đập đến tan xương nát thịt. (6)

Người Trung Hoa có một câu ngắn gọn, rất hay: 'Nếu muốn người ta đừng biết thì mình đừng làm', tức là nếu muốn không bị quả báo thì không nên tạo nhân.

Đừng nên như vị tăng tu ở núi Đại Hùng ở Hồng Châu, ông tu từ thời của đức Phật Ca Diếp còn tại thế, lúc đó ông ỷ mình có trí tuệ nên khi một đệ tử hỏi 'người đại tu hành có bị nhân quả không?' ông đáp 'bất luận'. Chỉ một câu nói (hay chấp) đó mà 500 đời sau bị đọa làm thân chồn! Mãi mấy ngàn năm sau, đến khi gặp được thiền sư Bá Trượng, mới được sư khai ngộ là: 'người đại tu hành thì sáng suốt, không lầm luật nhân quả (bất muội nhân quả)'. Nghe xong ông mới xả được báo thân chồn và ngộ đạo (7).

Còn chuyện Viên Án ám hại Triệu Thố hồi đời vua Cảnh Đế, rồi mười đời sau đó, oan hồn của Triệu Thố vẫn đi theo song không ám hại được vì Viên Án đời nào cũng xuất gia làm tăng không phạm giới, mãi đến kiếp sau cùng, đời vua Đường Ý Tông (khoảng năm 888),  Viên Án làm cao tăng lên đến bậc Quốc Sư, hiệu là Ngộ Đạt, thế mà chỉ một lần bị khuyết phần đức hạnh đã bị  oan hồn Triệu Thố nhập  vào làm thành một mụt ghẻ nói tiếng người, ăn thịt hành hạ khổ sở đau đớn nhiều năm. May nhờ trước có tạo phước duyên với Ca Nặc Ca Tôn giả nên được Ngài ra tay giải cứu mới lành bệnh được (8).

Như vậy nhân quả không phải chỉ có ba đời mà kéo dài không biết bao đời kiếp !

Như vậy qua những phần trình bày theo thứ tự trên, chúng ta chắc cũng biết người Phật tử nên sợ cái gì nhất?

Trở lại câu chuyện của Ngài Mục Kiền Liên: Kinh ghi rằng, bọn ngoại đạo sau khi đánh Mục Kiền Liên đến nát cả thây, chúng tưởng Ngài đã chết nên bỏ đi. Thật ra khi đó Ngài ở trong đại định nên không thấy đau đớn chi, song khi xả định, thấy tứ đại đã hư nát, Ngài dùng định lực bao phủ thân hình như đắp y, bay lên không trở về yết kiến, đảnh lễ đức Phật và thưa: 'Bạch đức Thế Tôn, thọ mạng của con đã tận, kính xin cho con được phép tịch diệt'. Đức Phật khả nhận và tôn giả liền đó tịch diệt ngay tại chỗ.(6) Có sách ghi, trước khi tôn giả tịch diệt, có một sa môn trong chúng hỏi: 'Vì sao huynh có thần thông mà không tránh né, để đến nỗi như vầy'?

Mục Kiền Liên đáp: 'Khi nghiệp quả đến, chỉ một chữ Thần còn chưa nhớ huống nữa là phát Thông'!  Nói xong Ngài thị tịch. (5)

Chúng tôi xin kết thúc bài nói chuyện ngày hôm nay  bằng một câu của cổ đức mà tất cả quý vị chắc ai cũng biết  là: bồ tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả, điều ấy nhắc nhở chúng ta là dù có tu hành cho được chút trí tuệ hay phước đức, dù chứng ngộ đến đâu, cả đến bậc Bồ tát đi nữa, người Phật tử cũng đừng bao giờ quên hay không tin luật nhân quả.

Đã gọi là luật rồi thì không ai tránh khỏi nó. Cũng đừng nên nghe nói sắc sắc, không không, nào là không tức thị sắc, sắc tức thị không, rồi cho rằng không nhân không quả. Cổ đức nói thà chấp có bằng núi tu di hơn là chấp không bằng hạt cải, vì 'người chấp có thì sợ nhân quả, không dám làm ác, chứ chấp không thì điều gì cũng dám làm, có thể đi địa ngục như tên bắn'. (9)

Nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho tất Phật tử chúng ta trong mọi ngày, mọi giờ phút đều nhớ đến hai chữ Nhân Quả và cầu sự giải thoát sinh tử luân hồi.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.                  

Bài nói chuyện tại
Tổ đình Từ Quang, Montréal, 
Canada.
Phật tử  Giác Tâm
Nguyễn Thành Long

Chú thích:
(1) Le cerveau à tous les niveaux (Institut des Neurosciences, de la santé mentale et toxicomanes du Canada).

(2) Handbook of Psychiatry (Philip Solomon & Vernon D. Patch)

(3) Tỳ Nại Da tạp-sự, quyển 11.

(4) Thiền sư Toàn Khoát (Trung Hoa chư thiền đức hành trạng II, H.T. Thích Thanh Từ)

(5) Phật và Thánh chúng (Cao Hữu Đính, Phật học viện quốc tế).

(6) Kinh Tiểu Bộ IX, chuyện tiền thân (kinh Bổn sinh thứ 522, H.T.Thích Minh Châu)

(7) Trung Hoa chư thiền đức hành trạng, tập I, trang 153 (H.T.Thích Thanh Từ)

(8) Mụt ghẻ nói tiếng người (Những mẫu chuyện đạo, tập III, trang 33, Chùa Khánh Anh)

(9) trong một bài giảng của H.T.Thích Thanh Từ.


GP