Giới Luật
Thích nữ Bổn Hóa

Theo thông lệ, bất cứ một Tôn giáo nào, một tổ chức nào cũng có cơ quan đầu não, một tổng hội, nhưng với Phật giáo thì “Tổng Hội Phật Giáo Quốc Tế” ở đâu? Ai sáng lập? Hiến chương và điều lệ như thế nào? Nếu chúng ta tìm thấy quả tình là chuyện lạ! Khi Như Lai nhập diệt, Ngài không giao Tăng Đoàn lại cho ai quản lý, sau này Tổ chức của Phật Giáo có chăng chỉ là các Giáo hội của từng quốc gia, thậm chí có Quốc gia lập đến vài ba Giáo hội. Vậy khi phát triển rộng rãi: đa sắc tộc, đa quốc gia, đa bộ phái… Phật giáo lấy gì làm tính thống nhất vượt không gian?

Đệ tử Phật nơi nơi, là người đang ở địa vị tục gia đệ tử, hay xuất gia đệ tử, là người Á hay Âu…, đang theo lộ trình Thanh Văn hay Bồ Tát, là sơ phát tâm hay nhập lưu, hoặc dự vào hàng Thập Thánh Tam Hiền. v. v… tùy theo địa vị, mỗi người sẽ có cái nhìn khác nhau, xử sự tương đối khác nhau, phong phú và đa dạng, song đó là sự khác nhau về chặng giữa y cứ trên hình thái kể ra.

Còn nghiêm túc, như lý mà nói, Phật Giáo ở chặng đầu, chặng giữa và chặng cuối trên lộ trình tu tập của cá nhân hay đoàn thể, tự lợi hay lợi tha đều phải hoàn toàn gắn liền với chữ “Thiện”_ (Thượng thiện, trung thiện và hậu thiện). Sở dĩ Phật Giáo đạt được tính “Thiện” nhất quán này, đặc biệt về mặt nhập thế đều nhờ vào nền tảng căn bản là “Giới Luật”. Đối với đạo đức xã hội có chiều hướng tha hóa, trượt theo vật chất, thực dụng thì Phật Giáo nhập thế càng cần khơi sáng Giới Luật để Tăng Ni áp dụng những giá trị “Khai, giá, trì, phạm” một cách tinh tế nhuần nhuyễn, uyển chuyển, “Hòa” mà không bị “Hóa”! Hàng Phật tử cần phải được hiểu rõ về tinh thần Giới Luật để áp dụng vào đời sống không thấy bị ngăn ngại, vướng rối, thậm chí vì không được khai triển rõ ràng, họ chẳng biết làm thế nào cho phải đời phải đạo.

Trong phạm vi bài luận này, điều cần thiết là tính chung nhất về mặt ứng dụng thông cả tục gia đệ tử và xuất gia , nên có thể dựa trên nền tảng ngũ giới, chiếu theo tinh thần Bồ Tát Đạo mà phân tích , vì đây là nền tảng căn bản của Đạo đức Phật Giáo nhập thế. Tuy nhiên, không vì thế mà xem nhẹ sự nghiêm cẩn của hệ thống Thanh Văn Giới vốn được xem là rào cản kim cương của Giới Bổn Thanh Tịnh.

Trước tiên cần tìm hiểu về nhân duyên xuất hiện của Giới:
Bồ Tát giới gồm mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh, không luận là tại gia hay xuất gia, không kể là người hay rồng, chư Thiên đều được thọ, khi thọ rồi thì giới thể tồn tại đến ngày thành Phật, trừ khi phạm trọng tội, do đó gọi là “Thông giới”.

Mặt khác, nhân duyên chế Giới của Bồ Tát khác với hệ thống Thanh Văn, Bồ Tát Giới được đọc khi Như Lai vừa thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội Bồ Đề, đây là tánh giới không đợi phạm mới chế. Đặc biệt trước khi tụng giới này, Ngài tuyên đọc câu: “Hiếu thuận cha mẹ, Sư Tăng, Tam Bảo, hiếu thuận là pháp chí đạo, hiếu cũng gọi là Giới, cũng gọi là cấm ngăn”.

Phật Giáo lấy Từ Bi làm gốc, tại sao không dùng chữ “Từ Bi” làm giềng mối của Giới mà lại dùng chữ “Hiếu”? Đối với hàng sơ phát tâm mà nói, khi tâm chưa thuần, “nhân, ngã, bỉ, thử” còn chưa xả, dùng chữ “Từ Bi” e rằng không thực hành được chân nghĩa, mà chỉ là tưởng tượng, không khéo chẳng thành nghĩa Từ Bi lại sanh ra ngã mạn, tự cho mình là nhân đức, độ lượng hơn người. Trong khi đó, dùng chữ “Hiếu” đi với chữ “Thuận” mang theo ý nghĩa của sự cung kính và hy sinh cho những giá trị thiêng liêng. Nghĩa là khởi điểm lưu xuất Giới đã mang sẵn tính vô ngã, hành xả, cao thượng. Mặt khác Như Lai lại lấy ví dụ Phạm Võng (mành lưới Phạm Thiên) để đặt tên Giới, nghĩa là tất cả các cơ sự ứng xử trên lộ trình tu tập Bồ Tát Đạo dù có rộng đến sum la vạn trượng, cũng là bóng dáng đan xen, phản chiếu từ các giới này. Như vậy, tuy giới được nêu lên để làm cơ sở y cứ cho hoạt dụng, nhưng chẳng qua là mặt nổi của “Bản Thể Thanh Tịnh”.

Theo Thanh Văn, Giới tùy phạm mới chế. Trong mười hai năm đầu, các pháp hữu lậu chưa phát sinh, Chư Tăng lúc ấy được gọi là Tăng Vô Sự. Nhưng sau đó, trong Tăng Đoàn có nhiều tầng lớp, nhiều căn cơ gia nhập, những người căn cơ thấp kém không tự đi đúng đạo lộ, như vậy cần phải có rào cản để họ không sa chân vào ác pháp, do đó Giới Luật ra đời.

Chẳng hạn như giới “Không được dâm dục” duyên khởi chế ra là do Tôn giả Na Đề Tử bị gia đình viện cớ tìm cháu nối dòng thúc ép, đã cùng người vợ ở nhà của mình làm việc phi phạm hạnh, chính ông sau khi phạm rồi, thấy việc kỳ cục, không giống ai mà sanh buồn phiền chứ không biết việc của mình sai phạm thế nào nữa. Sau đó vì thấy Tôn giả ưu phiền, chư Tỳ kheo hỏi ra biết duyên do, liền bạch lên Như Lai, Phật quở trách và lấy đó làm nguyên nhân phát khởi chế Giới. Trước khi chế Giới, Như Lai nêu lên mười điều lợi ích của việc chế Giới.

Đem hai phần nhân duyên của Giới Thanh Văn và Bồ Tát so lại thấy Giới biểu hiện “Thể”, “Tánh”, “Dụng” rõ ràng. Thể tức nền tảng Thanh Tịnh vốn sẵn có, trước cũng vậy mà sau cũng vậy, cảnh giới nào, quốc độ nào, loài nào cũng vậy. Tánh tức là thể hiện “Thiện Pháp”, theo hệ Thanh Văn là “phòng phi chỉ ác”, theo Bồ Tát hạnh thì gồm cả ba: “Nhiếp Luật nghi Giới, Nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình giới”. Dụng là cơ xử trong từng hoàn cảnh có thô có tế, có trọng có khinh.

Phân tích qua phần nhân duyên chế Giới, ít nhiều đã nêu lên tinh thần của Giới Luật, thể theo tinh thần đã nêu trên để phân tích nền tảng Đạo Đức và ứng dụng của Phật Giáo nhập thế qua Ngũ Giới. Văn Giới lược trích (nếu có) y cứ theo Bồ Tát Giới để mang tính phổ quát cộng thông.

A. Nhiếp luật nghi giới:
Nếu Phật tử, hoặc tự giết, hoặc bảo người giết, phương tiện giết, khen ngợi giết, thấy giết vui theo, nhẫn đến dùng bùa chú để giết….Phạm Bồ Tát Ba La Di tội.

Nếu Phật tử, tự mình trộm cướp, bảo người trộm cướp, phương tiện trộm cướp, cho đến dùng bùa chú để cướp… Phạm Bồ Tát Ba La Di tội.

Nếu Phật tử tự mình dâm dục, nhẫn đến tất cả các phái, không được cố ý hành dâm….Phạm Bồ Tát Ba La Di tội.

Nếu Phật tử tự mình nói dối, dạy người nói dối, phương tiện nói dối….Phạm Bồ Tát Ba La Di tội.

Trên là bốn giới lược trích phần đầu với ý nghĩa phòng phi chỉ ác, đây là ngăn ngừa về những việc ác từ thân khẩu ý. Về thân, tự mình không được làm; về khẩu, không được xúi người làm; về ý không nghĩ cách luồn lách, phương tiện để khiến cho mục tiêu ác thành công mà mình vẫn chạy tội được. Thậm chí thấy người ta làm ác không được đắc ý hay lung ý vui theo. Nói chung, tuy văn giới ngắn gọn, nhưng nếu một người có thiện căn, hoặc được bậc minh sư chỉ dạy, phân tích rõ ràng, nếu một cách hợp lý mà làm, đúng theo tinh thần của giới, người kia không cách gì chạy chối hay tránh né, chính họ sẽ biết rõ ràng mình phạm hay không phạm, phạm trực tiếp hay gián tiếp, thân phạm, khẩu phạm hay ý phạm, dùng phương tiện gì phạm. Mặt khác khi y cứ vào các điều kiện:

Có tâm muốn (sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối) Đối tượng
Phương tiện

Việc (sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối) đã xong

Người kia sẽ biết mình phạm ở mức độ nào. Một khi đã biết như vậy, rõ ràng nếu phạm là phạm, nếu không là không. Không thể nói không biết không hiểu, hay phương tiện thế nọ thế kia là không phạm. Chẳng hạn như việc trộm, nếu khởi ý lấy đồ vật này của ai, ngay đó ý đã phạm, sau đó nếu dùng phương tiện lấy được, kết tội, nếu dùng phương tiện mà lấy không được, lại kết tội theo biểu ngạch chưa được giống như bên Thanh Văn kết Thâu Lan Giá vậy. Do đó, nơi đây giới mang tính “phòng phi chỉ ác”, tức là sự cấm ngăn hữu hiệu từ trong ý tưởng của người Phật tử.

B. Nhiếp Thiện Pháp Giới:
Nếu Phật tử tự mình…… …Nhân giết, duyên giết, cách thức giết, nghiệp giết, nhẫn đến tất cả các loài hữu tình có mạng sống đều không được giết…….Phật tử này phạm Ba La Di tội.

Nếu Phật tử tự mình…… Nhân trộm cướp, duyên trộm cướp, cách thức trộm cướp, nghiệp trộm cướp, cho đến dù vật của quỉ thần đã có chủ, hoặc của giặc cướp; nhẫn đến một cây kim, một cọng cỏ đều không được trộm cướp…….Phật tử này phạm Ba La Di tội.

Nếu Phật tử tự mình…… Nhân dâm dục, duyên dâm dục, cách thức dâm dục, nghiệp dâm dục, nhẫn đến súc sanh, quỷ thần (trống hoặc mái, nam hoặc nữ) cho đến phi đạo hành dâm…….Phật tử này phạm Ba La Di tội.

Nếu Phật tử tự mình…… Nhân nói dối, duyên nói dối, cách thức nói dối, nghiệp nói dối, cho đến thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, thân và tâm nói dối….Phật tử này phạm Ba La Di tội.

Những từ chỉ về “Nhân”, “Duyên”, “Cách thức” và “Nghiệp” hướng về thời gian, phương thức, hay nói rõ như trên là “Nhiếp thiện pháp giới”, vì đây không chỉ là luật mang tính giữ thanh tịnh cho mình trong một đời, mà mang ý nghĩa cho nhiều đời nhiều kiếp. Đại khái là những ác pháp nào trước kia đã có, từ nay đoạn dứt, khiến không sanh lại, và những ác pháp chưa sanh không để cho sanh. Đó là nói đến biểu nghiệp của riêng mình, còn trong biểu nghiệp chung tự mình không có duyên, không tạo phương tiện tương tác khiến sanh ác pháp với đối tượng khác, và khiến đối tượng khác không có nhân duyên tương tác ác pháp với mình, đây cũng là một trong những ý nghĩa của việc “Nhiếp thiện pháp giới”.

C. Nhiêu ích hữu tình giới:
Là Phật tử lẽ ra phải khời lòng từ bi, lòng hiếu thuận, lập thệ cứu giúp tất cả chúng sanh, mà trái lại phóng tâm giết hại chúng sanh. Phật tử này phạm Ba La Di tội.

Là Phật tử lẽ ra phải có lòng từ bi, lòng hiếu thuận, thường cứu giúp cho mọi người được phước, được vui mà trái lại trộm cướp đồ vật của người. Phật tử này phạm Ba La Di tội.

Là Phật tử phải sanh lòng hiếu thuận, cứu độ tất cả chúng sanh, đem pháp thanh tịnh cho mọi người mà trái lại khởi tâm hành dâm với tất cả, không luận súc sanh hay quỷ thần, nhẫn đến cha mẹ anh em trong lục thân mà hành dâm, đó là không có tâm từ bi. Phật tử này phạm Ba La Di tội.

Là Phật tử, phải sanh tâm nói chánh ngữ, chánh kiến và cũng khiến cho tất cả chúng sanh nói chánh ngữ chánh kiến. Trái lại nếu khiến cho mọi người nói lời tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp. Phật tử này phạm Ba La Di tội.

Bốn mục vừa nêu là phần sau văn giới của bốn giới trọng, mục tiêu đều nhắm đến việc lợi ích cho tha nhân. Tha nhân ở đây hàm ý các đối tượng hữu tình khác mình, không chỉ riêng là loài người.

Đến đây, cũng cần nói riêng về giới “Không uống rượu”. Trong Ngũ Giới tại gia, Bát Quan Trai, Thập Giới, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni giới “Tửu” thường kết ở tội “Uống”, nhưng trong Bồ Tát Giới thì giới trọng là “Không được bán rượu” mà trong giới không được bán rượu đó có luôn phần kết tội trọng ở việc đưa rượu cho người uống, còn việc uống rượu lại kết tội nhẹ hơn. Tuy nhiên dù trọng hay khinh thì căn bản vẫn không được uống hay bán. Nếu là người Phật tử tự mình không được bán, không mời người khác uống, lại không được uống, thì xã hội này có lẽ bớt đi nhiều chuyện rượt chém nhau, mất trật tự hay đốt nhà do say xỉn gây ra. Theo nhân gian mà nói, uống rượu họ không cảm thấy có lỗi gì, uống để tiêu cơm, uống để giải sầu, uống tăng phong độ “Nam vô tửu như kỳ vô phong”…

Biết bao nhiêu bài thơ, văn ca ngợi cái thú uống rượu, cái dũng uống rượu. Tùy theo cái nhìn của những người uống rượu mà ca ngợi, nhưng thực tế cho thấy rượu khiến người ta mất tự chủ cả thân lẫn tâm, lâu ngày dài tháng uống rượu lại sanh bệnh….Nếu đem thử cái hào hứng sảng khoái dỏm mà so với cái hại thật của rượu thì quả tình rượu không nên uống.

Trở lại vấn đề Tam Tụ Tịnh Giới của Phật Giáo trong việc nhập thế.
Đối với Nhiếp Luật Nghi giới, việc hành trì sẽ đem lại kiện toàn, trang nghiêm trong hiện tại, mở con đường an ổn hạnh phúc cho mai hậu. Nhiếp Thiện Pháp Giới là đại lộ đi vào Thanh Tịnh cho mình, Nhiếp Chúng Sanh Giới mang tính chất tích cực vị tha.

Một học giả, một nhà nghiên cứu không phải là Phật tử, nếu nhận xét một cách nghiêm túc về Phật Giáo, không cần chuyên sâu, chỉ xem qua Ngũ Giới, đặt biệt là Bồ Tát Giới, nếu hiểu, vị ấy không thể kết luận hời hợt là Phật Giáo vị kỷ hay yếm thế. Riêng về Phật tử một khi đã quyết chân chánh tu hành thì Tam Tụ Tịnh Giới không thể thiếu một. Nếu chúng ta chỉ thuần Nhiếp Luật Nghi Giới, người khác sẽ chỉ trích là yếm thế. Đây là tạm nói chứ không có thể tách rời, đừng nói là bốn Giới trọng, trong hệ thống Giới của Phật đã chế, không ai có thể chỉ ra một giới mà không bao gồm cả ba tính chất của Tam Tụ.

Nếu ai đó trì luật mà nói chỉ cần chi đầu, không có hai phần sau, vị này sẽ bị vướng vít rất nhiều trong việc hành xử, thậm chí bị tổn thương lòng từ bi. Ngược lại, ai chỉ cần chi thứ hai, chỉ giữ cái tâm thiện, có những việc cần làm mà không làm, như vậy cũng kém lòng từ; còn chuyên về chi thứ ba, miễn rằng tâm không động, mọi việc không nệ hình thức, thì e rằng phạm giới tự bao giờ chẳng hay. Một khi đã giữ vũ khí lợi hại, không biết xài kể cũng nguy. Đối với Giới Luật nhà Phật, thâu lại thì lấy bốn giới làm căn bản, rộng ra đến tám vạn bốn ngàn, nhưng ít hay nhiều cũng y cứ vào Tứ Giới mà phân chia, theo Tam Tụ mà chiết giải.

Tuy nhiên, trong hệ thống Thanh Văn Giới, có những điều xưa Như Lai theo hoàn cảnh lúc đó chế, ngày nay có một số nơi chẳng hề biết đến, chẳng bao giờ phạm vì đâu có. Ngược lại, có những việc đời nay có lẽ nên thêm, xưa Phật cấm không uống rượu, không lẽ bây giờ không uống rượu mà được uống bia? Hay được dùng ma túy? Xét về vấn đề này, có thể lấy Tam Tụ làm tiên quyết:

Về Nhiếp Luật Nghi, sau khi Như Lai Niết Bàn, Ngài A Nan tuyên bố Phật di ngôn rằng có thể bỏ bớt một số Giới vụn vặt, không cần. Thế thì Giới nào là vụn vặt không cần, Ngài A Nan đã không kịp hỏi, do đó Tôn Giả Ca Diếp tuyên bố để nguyên. Như vậy ngày nay, Tăng Đoàn ở một vùng, một quốc độ nào đó thấy những gì không hợp thì tạm thời không xử dụng đến. Nhưng không vì thế mà chỉ cần giữ nguyên Bốn Giới Trọng, còn tha hồ chế ra cái mới để cho phù hợp thời đại, quốc độ.

Xưa Phật đã chế là Giới, đây là Tinh Chất Sữa, sau này hàng đệ tử không được nói Kinh hay chế Giới, nếu có ai tùy tiện thêm bớt Giới Bổn, có lẽ vị ấy cảm thấy mình hơn cả Ngài Ca Diếp và Năm Trăm Thánh A La Hán trong Đại hội Kiết tập lần I. Những nguyên tác cần gìn giữ khi còn phù hợp đó là Nhiếp Luật Nghi, những gì tùy theo quốc độ người ta cho là ác thì hàng Phật tử đừng phạm vào, đây là Nhiếp Thiện Pháp Giới, chẳng hạn như việc uống bia đã nêu trên, hàng Phật tử nếu thấy một vị Tỳ Kheo uống bia người ta sẽ cười khinh, như vậy việc này phải tránh. Những gì cần làm để lợi ích cho chúng hữu tình cũng phải làm để tăng trưởng lòng từ đây là Nhiêu Ích Hữu Tình Giới.

Tóm lại, trọng yếu của Giới đặt ở nơi Thanh Tịnh và Giải thoát. Trong Thanh Tịnh gồm cả việc “phòng phi chỉ ác” cho hàng đệ tử Phật và lợi ích chúng hữu tình. Một khi đã hiểu rõ tinh thần của Giới Luật, người Phật tử không lý do gì cố phạm mà đổ thừa cho giới bị khiếm khuyết, cũng không lấy lý do gì để biện hộ cho việc làm sai trái của mình, càng không thể phiền trách là Giới Điều khô cứng không phù hợp. Nếu có tinh thần cầu tiến, cầu giải thoát, người đệ tử Phật sẽ luôn thấy Giới Luật là phao để cho mình qua sông an toàn, nhận thấy Giới là cơ sở y cứ cho mọi việc hành xử trong đời của mình để tránh tội lỗi.

Ngược lại, nếu nhận thấy Giới là lạc hậu, là vướng bận thì hãy kiểm tra lại tư tưởng kiến thức của mình, hoặc kiểm tra lại tâm tư của mình xem có thật tâm muốn tu hành hay đang muốn cái gì khác, hay không kham nổi Thiện Pháp, Thánh Pháp. Nếu là người có thái độ ứng xử nghiêm túc, sẽ chân thật nhận diện ra mình là ai, muốn gì. Nhiều lúc vì không kham nổi mà phá giới, hay tham danh lợi bày ra thứ mới rồi cho rằng Giới không phù hợp, như vậy là đã đi ngược lại tính chất Vô Ngã và Thanh Tịnh. Đối với việc nhập thế, hoằng pháp lợi sanh càng phải bám sát vào Giới để làm kim chỉ nam, không thể đem hàng tín chúng ra làm thí điểm. Mặt khác, với trí óc phàm phu, hôm nay nhận xét cái này là đúng thực hành theo, rồi sau này xã hội thay đổi không lẽ sửa lại, như thế trở thành hồ đồ Chân lý.

Source:  www.dentutraitim.com    Jan 8, 2006