Lẽ Đương Nhiên
Đại Sư Tinh Vân (Master Hsing Yun)
Việt dịch:  Thích Nữ Huệ Phúc

Những sự phải trái tốt xấu trong đời, có cái là đương nhiên nhưng có cái không phải đương nhiên. Điều đương nhiên thì không cần đem ra bàn luận. Bằng ngược lại, nếu không phải là điều đương nhiên, sẽ bị bẻ gãy, hoặc oán trách, hờn giận, khiến cho tâm trí không được an nhiên, tự tại. Thuận cảnh, đương nhiên là tốt đẹp; nhưng nếu là nghịch cảnh, thì đương nhiên là không dễ dàng như ý muốn. Thế nhưng, nếu chúng ta thấu hiểu được điều mà gọi là “nghịch đến, thuận nhận”. Đem điều không đương nhiên đó, xem nó như là đương nhiên, thì mọi sự đều trở thành xuôi buồm thuận gió, vui tươi, hạnh phúc vô hạn.

Trong thế giới tự nhiên, mưa thuận, gió hòa, làm cho vạn vật sanh trưởng; sương tuyết làm cho vạn vật tươi nhuận. Trong quá trình cuộc sống của đời người, cha mẹ quản giáo con cái vạn nghiêm là điều đương nhiên thôi, bởi vì cha mẹ muốn con cái mình trở nên người tốt lành, có tương lai tươi sáng. Thầy cô giáo huấn, nghiêm khắc ép buộc học sinh dụng công học tập là điều đương nhiên, bởi vì thầy cô giáo mong muốn giúp học sinh có được thành tích tốt. Giữa các bạn đồng học có sự cạnh tranh cũng là điều đương nhiên thôi, bởi vì có cạnh tranh mới có sự tiến bộ.

Cuộc đời thế thái nhân tình cũng là đương nhiên thôi, bởi vì thế nhân mong muốn bạn phát huy cuộc sống đủ tình trọn nghĩa. Quân đội đòi hỏi người quân nhân phải nghiêm minh tuân thủ kỷ luật, luyện tập muôn phần nghiêm khắc dụng công là đương nhiên, bởi vì trên chiến trường không thể có một phân hào sai xuất. Ông chủ yêu cầu bạn làm thêm công việc, đó cũng là điều đương nhiên, bởi vì có tăng năng suất, mới có được thu hoạch lợi ích lớn.

Con cái đòi hỏi cha mẹ sự giáo dưỡng, học hành, thì cũng là điều đương nhiên, bởi vì giáo dưỡng là trách nhiệm của cha mẹ. Người bạn nghèo thường đến vay mượn, cần cầu sự giúp đỡ của bạn thì cũng là điều đương nhiên thôi, bởi vì anh ta nghèo khó mới mong cầu bạn hợp lực giúp đỡ phần khốn khó đè nặng trên vai.

Vì vậy, trong cuộc sống, nếu chúng ta biết khéo chuyển hóa cái nhìn tầm thường nông cạn, thành cái nhìn quảng đại; nghĩa là đem những điều không đương nhiên, hoán chuyển nhìn thành điều đương nhiên, thì rất tự nhiên, bạn sẽ cảm nhận được tâm bình, khí hòa, không hề có sự oán trách, giận hờn.

Từ đó mới rõ tiết xuân ấm áp, khiến cây lá đâm chồi nảy nụ khai hoa. Tiết hạ nóng nực; tiết thu mát mẻ; tiết đông tuyết rơi lạnh lẽo, cô tịch... tất cả đều là lẽ đương nhiên.

Người bạn kia giàu có bởi vì họ biết cần cù, kiệm ước cho nên họ giàu có là đương nhiên. Người bạn nọ phát đạt nhanh chóng, đó là nhân duyên phước đức của anh ta. Hơn nữa, trong cuộc sống anh ta biết quảng kết thiện duyên, đương nhiên anh ta sẽ thành tựu được vinh quang hiển đạt. Người nhà hàng xóm lân cận an lạc, hòa thuận, đó cũng là điều đương nhiên, bởi họ có sự giáo dục, tu dưỡng tốt. Người bạn nọ được thăng quan tiến chức, nhận lãnh bổng lộc, thì đó cũng là điều đương nhiên, bởi vì họ có đủ điều kiện tốt, kết hợp cùng thời vận.

Trong cuộc sống thọ nhận sự khổ khó thì cũng là điều đương nhiên, bởi vì cuộc sống nếu không trải qua sự ngậm đắng nuốt cay, nằm gai nếm mật, thì làm sao thành bậc thượng nhân? Gặp phải khó khăn thì cũng là điều đương nhiên thôi, bởi vì cuộc đời nếu không từng đi qua đoạn đường giá rét buốt xương, thì làm sao có được ngày hoa mai nở rộ, tỏ ngát hương thơm? Thọ nhận sự đổi trắng thay đen, hoặc bị người khinh khi, chán ghét... thì cũng là điều đương nhiên thôi.

Suy cho cùng, nghĩ cho tận thì trong sự “đương nhiên” ấy. Có biết bao là hương vị kỳ mỹ, thành tựu công đức. Trong “Phật Quang bổ thần ngôn” có câu: “Trong biển người chìm nổi, thọ khổ, thọ nạn là điều đương nhiên, chỉ cần tùy hỷ, tùy duyên là có thể tìm ra được thông lộ”. Trên cuộc sống thế gian, cho người sự an vui là điều cần đương nhiên; chỉ cần thấu rõ việc cần làm, và nên làm tất sẽ thành tựu được khả năng cống hiến.

Cuộc sống ở đời, chỉ cần bạn hiểu được mình và người, đem những điều không đương nhiên biến thành điều đương nhiên, thì có vấn đề gì là không thể giải quyết?

12 Câu Hỏi Về Cuộc Đời

Làm người, chúng ta cần phải thời khắc tự mình phản tỉnh lấy chính mình, mới có đủ năng lực tu bồi đức hạnh, tiến tu đạo nghiệp. Dưới đây là 12 vấn đề mà chúng ta cần nên tư duy phản tỉnh tự hỏi lấy chính mình.

1. Mình sanh ra trên thế gian này, mình đã từng thành tựu được những gì có lợi ích cho nhân thế?

2. Đối với ân đức của các bậc thầy tổ, cha mẹ; mình đã tận tâm, tận lực báo đáp?

3. Mình đã thọ nhận của thế gian biết bao nhiêu là thiện duyên hỗ tương dưỡng dục; mình đã hồi đáp được bao nhiêu?

4. Đối với các bậc thầy tổ, quyến thuộc bạn bè, xã hội v.v… mình có thiếu nợ họ chăng?

5. Thế gian cung cấp cho mình vật thực, quần áo, nhà ở, dụng cụ, thuốc thang, học hành….mình cần nên có bổn phận đền đáp như thế nào?

6. Tự mình có thấu suốt được nguồn gốc nhân duyên bản lai diện mục của chính mình, khi sanh ra ta từ đâu đến, và khi hết duyên ở thế, từ giã cõi đời ta sẽ đi về đâu? và ta ra đi với thú hướng, sự nghiệp như thế nào?

7. Mình có từng lắng tâm quán sát thế giới nội tâm của chính mình và đếm chính xác mỗi ngày bao nhiêu lần mình trôi lăn, lặn hụp, bay nhảy trong các cảnh giới tam đồ, lục đạo của thiên đường, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh?

8. Mình có thể kiểm soát rõ về chính mình trong sinh hoạt mỗi ngày đối mặt với các bệnh dịch độc nhiễm tham sân, si, mạn, nghi, ác kiến…mình làm thế nào để hóa giải trị liệu?

9. Mình ngày ngày có hằng sống với thức tâm tỉnh cảnh giác ba nghiệp của chính mình? Mỗi lần cảnh tỉnh điều gì?

10.  Vận chuyển giữa dòng sống thế nhân, chúng ta cần nên làm những gì để có được cuộc sống vui tươi tự tại?

11. Mình cần phải ứng phó thế nào để tiêu trừ phiền não, phá tan vô minh, tìm về chân tâm bản tánh?

12. Mình cần phải có chương trình kiến tạo tư lương và sắp đặt như thế nào cho cuộc sống của chính mình trong hiện tại và trong mai hậu?

Trên là 12 vấn đề về cuộc sống con người, bao gồm các vấn đề giữa mình và người, giữa mình và xã hội, giữa mình và quốc gia.

Thông thường chúng ta mỗi ngày chỉ suy nghĩ đến lợi ích cho riêng mình, rất ít quan tâm đến phúc lợi của người khác. Do bởi chúng ta thường đem cái tự ngã kiến lập trên quốc gia xã hội mà tạo nên nhiều tệ hại, rồi khi gặp điểm khó khăn, trắc trở, trước không chịu kiểm điểm lấy chính mình, mà lại oán trời trách đất và đổ lỗi cho người; thậm chí là oán trách vận mệnh đen tối đưa đẩy, chứ không biết những trắc trở kia là do chính tư tưởng hành vi bất chánh đang cư trú trong nội tâm của chính mình tạo nên, do vậy phải lặn hụp trong cuộc sống phiền não, lo âu, buồn khổ.

Lục tổ Huệ Năng thường khuyến cáo các môn đồ: “Vận tốt, tâm tốt sớm phát đạt vinh hoa. Tâm tốt, vận không tốt, đời sống vẫn ấm no hạnh phúc. Vận tốt, tâm không tốt, e rằng không thể đảm bảo được tiền trình cuộc sống. Tâm, vận đều không tốt thì cả một đời nhận chịu sự khổ cực, nghèo cùng”. Châu Lợi Bàn Đà Già sanh tánh ngu muội. Do biết thành tâm khẩn cầu sám hối những chướng nghiệp tội trong quá khứ; đồng thời nỗ lực hành trì lời Phật giáo huấn mà cuối cùng ông đã thành tựu được đạo quả.

Còn Đề Bà Đạt Đa vốn được sanh ra trong dòng quý tộc vương tử, nhưng do tâm nổi tham dục lợi dưỡng, phá tăng hại Phật mà cuối cùng phải nhận lấy ác quả đọa vô gián địa ngục.

Do vậy, bậc thánh nhân nói rằng, quán nhìn việc xưa mà đoán biết được việc hiện tại; bất luận là khoa học kỹ thuật tiến bộ đến đâu, chúng ta vẫn cần phải tự mình đặt yêu cầu cho chính mình, kiện toàn cho chính mình mới bảo đảm được sự sanh tồn. Lại nữa “Phản quan tự kỷ”, hằng sống với thức tâm tỉnh giác, chăm bón thiện duyên, là việc không thể thiếu để cất bước hướng vào cảnh giới an lạc giải thoát!

Nghèo Cùng Và Giàu Có

Nghèo cùng và giàu có là hai danh từ nói về hai thân phận đối đãi. Phần lớn trong nhận thức của con người đều cho rằng: người nghèo cùng thì không có cái giàu có hiện hữu, và ngược lại, giàu có thì không có cái nghèo cùng hiện hữu. Kỳ thật không phải như vậy. Trên thế gian, sự nghèo giàu thật khó phân định. Người giàu vẫn có chỗ nghèo thiếu, và người nghèo khó vẫn có cái phú quý ẩn tàng.

Nhan Hồi ở nơi đường cùng góc hẻm, nhà nát vách thưa, cơm ngày một chén chan với nước trong, nhưng trong lòng sung mãn an lạc. Như vậy ai dám kết luận ông ta là người nghèo cùng? Ngài Đại Ca Diếp tôn giả ở chốn đồi trọc suối cạn, ngoại trừ ba y, bình bát, cơm ngày một bữa ra, một vật lớn nhỏ nào cũng không có. Thế nhưng, ngài vẫn sống một đời sống tự tại giải thoát. Chúng ta ai dám cho rằng tôn giả là người nghèo cùng?

Phản quan mà nhìn, ngày nay người ở nhà cao tầng, có kẻ hầu người hạ, cơm dâng nước rót đến tận miệng. Muốn đi đâu cũng có người đưa kẻ đón, nhưng ngày ngày bị đồng tiền chế ngự tất bật, không một phút giây thanh thản. Hạng người đó đáng gọi là người giàu có chăng? Người đó mặc dù nguồn vốn vật chất, họ luôn luôn có đến bạc kho vàng núi; nhà cửa ruộng vườn đến cò bay mỏi cánh, nhưng tâm lượng nhỏ nhoi, keo kiệt; một đồng xu nhỏ cũng không dám buông xả.

Lòng tham không đáy, khiến cho tâm ý con người đó thời thời khắc khắc chỉ biết nghĩ đến thâu góp, mà thâu góp bao nhiêu cũng vẫn cảm thấy không đủ. Bạn có cho rằng hạng người này là giàu có chăng?

Giữa hai hạng người trên, ai là người chân thật giàu có, và ai là người chân thật nghèo cùng? Từ đó mà suy cho cùng thì sự giàu nghèo không thể lấy kim tiền vật chất để đo lường.

Trên thế gian có hạng người mặc dù cuộc sống chật vật, nhưng luôn luôn lấy việc công ích làm vui, lòng họ luôn luôn rộng mở vui vẻ giúp đỡ, bố thí cho người khác. Hạng người này trên mặt sống tinh thần, so cho cùng chẳng phải là hạng “đại phú ông” sao?

Ngược lại, hạng người trọn ngày đêm chỉ biết tham đồ lợi ích của người khác. Với lòng tham không đáy, không những không ngừng cầu mong tài vật có thêm nhiều. Phàm có chỗ được nào thì luôn luôn muốn chiếm làm của riêng mình, hạng người như vậy tâm linh nghèo cùng bút mực nào tả xiết?

Kỳ thật, dựa trên quan điểm Phật giáo mà nhìn thì trên thế gian vốn không có người nào là tột cùng nghèo khó. Nếu chúng ta sống với tâm hồn vô tư, biết vận dụng thời gian và không gian đi làm việc nhân nghĩa, giúp ích người khác, quảng kết thiện duyên; tất nhiên thời gian đó là thời gian hữu ích phú quý.

Hoặc bạn biết khéo sử dụng ngôn từ chân thật thiện mỹ tán thán chỗ tốt của người, cổ võ khích lệ người làm việc tốt; tất nhiên bạn sẽ là người giàu có ngôn ngữ, phong phú âm thanh. Hoặc bạn biết lấy nụ cười chân thiện khiêm cung hoan hỷ đối đãi tha nhân, thì nội tâm bạn vốn đã sanh trưởng của báu vô giá.

Hoặc giả bạn biết vận dụng sức lực mình đi giúp đỡ người, phục vụ chúng dân. Đó chẳng phải là bạn đã có nguồn khí lực sung túc chân thật sao? Thế nên luận về sự giàu nghèo thì, tâm tham không biết đủ, vĩnh viễn là người nghèo cùng. Vui làm việc thiện nghĩa không một tơ hào so đo tính toán thiệt hơn, vĩnh viễn là người giàu có.

Khi nói đến tài phú, không thể chỉ nhìn cái tài phú trong nhất thời, mà phải nhìn cho ra cái tài phú trong suốt cả cuộc sống thực hữu. Cũng không nên chỉ nhìn cái tài phú của một người, mà phải nhìn cái tài phú từ sự cộng hữu. Và nhất là không nên nhìn cái tài phú do sự vơ vét của người khác, mà cần phải nhìn xác thật sự hoạt dụng tài phú đó. Đồng thời cũng không nên nhìn cái tài phú trên hình tướng, mà cần phải nhìn cái tài phú vô tướng của nội tâm.

Người chân thật có trí tuệ, có từ bi tâm, có chánh tín, có tâm hoan hỷ, biết sống thiểu dục tri túc với tâm tàm quý…Những đức tánh ấy, chính là nguồn tài phú vô giá của mỗi chúng ta. Kinh Kim Cang đức Phật dạy rằng: “Nếu chúng ta biết lấy bốn câu kệ :

Chư hành vô thường
Chư pháp vô ngã
Sanh diệt diệc dĩ
Tịch diệt vi lạc.

Tinh cần tư duy quán chiếu và thực dụng vào đời sống thường nhật, đồng thời đem bốn lời kệ ấy cùng người rộng kết duyên pháp, giảng giải, hướng dẫn người cùng tu tập chánh pháp, thành tựu giác ngộ, giải thoát thì công đức pháp thí đó rộng lớn muôn vàn so với công đức bố thí tài vật mà thế gian cho là quý giá như vàng bạc, ngọc ngà, châu báu. Vì vậy, giàu có và nghèo cùng chúng ta nên như vậy mà quán sát!

VĂN – TƯ – TU

Khi nghe người khác khen bạn hay, bạn giỏi, tâm bạn khởi vui mừng hớn hở? Và khi nghe những lời tán thán khen ngợi đó, bạn có bao giờ lắng tịnh tâm tư quán sát lời khen đó là chân thật hay chỉ là lời khen trang sức?

Hoặc nếu nghe người khác phê bình chê bai, huỷ báng bạn, bạn khởi tâm tức giận, buồn phiền? Hay vẫn tâm bình khí hoà định tĩnh quán xét lời chê bai đó là hợp lý cảnh tỉnh bạn, hoạc giả nó chỉ là lời thị phi!

Nghe người khác nói chuyện hoặc tự mình định làm công việc gì, bạn có thói quen suy nghĩ chín chắn rồi mới thực hành? Dẫu rằng sự suy nghĩ của con người phản ứng nhạy bén, nhanh chóng; nhưng nếu không thông qua định tĩnh tư duy quán xét sẽ không tránh khỏi sự sơ hở sai sót, nhầm lỗi.

Có người cố chấp theo cái suy nghĩ của riêng mình, không chịu nghe theo lời hay ý thiện của người khác, do vậy, khi nghe người khác thảo luận góp ý, anh ta lấy làm lơ là, không chú tâm lắng nghe, cũng chẳng dụng tâm suy nghĩ . Do vậy, công việc làm rất khó đạt được kết quả hoàn mỹ.

Đức Phật trực đối hạng người có tập tánh thưa thớt đó, từ bi khuyên nhắc:” Trong sinh hoạt thường nhật, đối mặt với bất luận sự tình gì chúng ta đều cần nên vận dụng VĂN-TƯ-TU mới có thể tiến nhập giải quyết sự tình cực chí thông suốt tốt đẹp, và có trải qua VĂN-TƯ-TU mới có thể đạt được mục tiêu chính xác, an toàn. Bởi vì, Văn là từ chỗ nghe, chỗ thấy mà sanh trưởng trí huệ. Tư là từ chỗ tư duy, khảo nghiệm suy xét mà tăng trưởng trí huệ. Tu là từ chỗ dụng công tu tập thực hành những điều thấy nghe, thông qua tư duy khảo nghiệm, quán sát mà thành tựu trí tuệ.

Các nhà nho học thường nói:  “Học mà không tư duy là học vẹt”. Chỉ tư duy mà không thông qua sự sàng lọc của sự học hiểu thực nghiệm thì sự tư duy đó rất dễ rơi vào tà nguỵ vô cùng nguy hiểm. Điều đó đã thuyết minh rõ về tầm quan trọng của tam huệ VĂN-TƯ-TU.

Văn là lắng nghe người khác nói chuyện, thuyết giảng Bạn có chuyên tâm nhất ý lắng nghe chăng? Giả như nghe có chỗ ngôn từ, ý nghĩa thiên lệch, bạn có biết chuyển hướng cách nghe?

Bậc Bồ Tát tu 25 pháp viên thông; nhĩ căn viên thông là một trong những pháp tu quan trọng. Do vậy, Phật pháp rất chú trọng về pháp môn huân tập “đa văn”. Tai nghe so với mắt nhìn có phần quan trọng không kém. Vật ở quá xa tầm mắt hoặc sát cận tầm mắt thì không thể nhìn thấy được minh bạch, nhưng âm thanh ở xa hoặc ở sát cận tầm tai vẫn có thể nghe được rõ ràng .

Những chuyện của quá khứ, mặc dù là không nhìn thấy được nguyên thể hình dạng của chúng như thế nào, nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu biết được thông qua nghe người khác nói kể truyền đạt lại. Người ở cách vách tường nói chuyện, mặc dù không nhìn thấy được người, nhưng vẫn có thể nghe được tiếng nói của đối phương.

Thật ra, nghe là một nghệ thuật linh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống, và đòi hỏi chúng ta không ngừng trau dồi học tập kỹ năng thiện xảo “lắng nghe” chơn thực, chính xác. Cái mà gọi là lắng nghe tiếng vỗ tay của một bàn tay, nếu bạn lắng nghe được âm thanh từ vô thanh kia thì ngay phút giây đó bạn đã thành tựu được pháp “nghe sanh trưởng trí tuệ” (Văn sở thành tuệ rồi!)

Điều mà gọi là “Tư sở thành tuệ”, nghĩa là từ chỗ tư duy quán sát những điều thấy nghe mà tăng trưởng trí tuệ; nó đòi hỏi phải có chánh tư duy, thiện tư duy, thanh tịnh tư duy và tư duy sâu sắc, kỹ lưỡng chín chắn; Ý nói rằng phàm làm một sự việc gì đòi hỏi phải có sự suy đi nghĩ lại, khảo tới sát lui ba lượt, sau đó mới thực hành. Trên thế gian người có tiền của được xem là người có nhiều phước báu đáng quý; nhưng người có tư tưởng tư duy trong sáng, chánh trực không những đáng quý mà còn được tôn kính.

Trên thế gian các nhà triết học giải thích ra được nhiều vấn đề của vũ trụ đều là nương vào tâm não tư duy quán sát khảo nghiệm mà khai sáng vấn đề. Tất cả các nhà khoa học kỹ thuật trên thế giới phát minh ra bao nhiêu những khoa kỹ văn minh cũng đều thông qua tư tưởng tư duy, thực nghiệm mà thành tựu.

Và biết bao nhà văn học, văn từ phong phú, ý tứ trong sáng, có đủ lực cảm hoá lòng nhân cũng đều là kết quả từ sự tư duy mà thành. Cũng vậy, trong cuộc sống bình nhật, nếu chúng ta thường hằng biết huân tập tư duy, phản tỉnh, quán sát nội tâm nhận chân được thật tướng của các pháp thì sự tư duy đó rất tự nhiên tăng trưởng nên trí tuệ.

“Tu sở thành huệ” là gì? Tu, là thực tiễn hành trì theo giáo pháp của Đức Phật chỉ dạy, hoặc hành trì những điều đã học hỏi thấy nghe được từ các bậc thánh nhân, thầy tổ v.v… mà vận dụng tư duy, phản tỉnh sửa đổi ba nghiệp thân- khẩu- ý mình từ những điểm hư xấu, bất thiện, bi quan bế tắc trở thành trong sáng thiện mỹ, lạc quan. Tu có nhiều hình thức như khổ tu, lạc tu, chơn tu, nội tu, cộng tu, tự tu…Sự tu tập được dụ như y phục rách rồi, cần phải vá lại mới có thể mặc được.

Phòng xá hư hoại cần phải tu sửa lại mới có thể ở được. Cũng vậy, thân tâm con người một khi đã có vết dơ nhớp hoặc có lỗ khuyết hỏng hư hại đương nhiên càng nên cần phải sửa đổi tu bổ mới đảm bảo được phẩm chất hữu dụng của đời người, đồng thời từ chỗ lập nguyện tu dưỡng sẽ tạo nên động lực vi diệu thăng hoa cuộc sống đến chỗ cực chí mục tiêu.

Đường dài vạn dặm, chỉ cần bạn dụng công khởi chân cất bước thì lo gì không đến đích? Sự nghiệp ngàn muôn, chỉ cần bạn dũng cảm đảm nhận tiến hành thực tiễn thì lo gì sự nghiệp không thành công? Tu hành sẽ thành tựu được nhân phẩm và phong cách trang nghiêm; tu tâm sẽ thành tựu được đạo nghiệp thậm thâm vi diệu; chỉ cần chúng ta kiên tâm quyết chí thực hành, tất nhiên sẽ có quả chứng. Đó là thành quả diệu dụng của “Tu sở thành huệ”.

Từ cái diệu dụng thật tiễn của “VĂN-TƯ-TU” đối với cuộc sống con người, Phật giáo khuyến cáo chúng ta không thể thiếu và không thể xem nhẹ thực tiễn hành trì “VĂN-TƯ-TU”, bởi vì có “VĂN-TƯ-TU” mới có thể tiến sâu vào cực chí địa linh chánh quả.

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.
Chọn những bông hoa và những nụ cười *

Nghịch Tăng Thượng Duyên

Tổ tiên ta thường nói: “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người.” Điều đó đã nói lên tôi luyện thành công sự nghiệp làm người, cần phải nương tựa vào rất nhiều yếu tố nhân duyên hỗ trợ. Cây cối hoa cỏ cần phải có đầy đủ các yếu tố nhân duyên hỗ tương như ánh sáng mặt trời, không khí, nước phân, nhân công v. v… mới có thể khai hoa kết trái. Cao lầu đại hạ cũng cần phải có các vật tư đất, gỗ, đá, gạch… mới có thể thuận lợi thành tựu công trình xây cất. Nhân duyên thuận lợi đương nhiên dễ thành tựu.

Nhân duyên không thuận lợi, thì cho dù là tôi luyện phong cách làm người hoặc làm bất cứ sự việc gì cũng đều không trách khỏi trùng trùng trở ngại khó khăn.

Khó khăn, khổ nhọc có thể đánh ngã được người bình thường, nhu nhược thiếu tự tin, nhưng không thể đánh ngã được người có niềm tin yêu vững chắc, trong sáng. Bởi vì nhân duyên thuận lợi, cố nhiên sẽ trợ giúp chúng ta đạt được thành công nhanh chóng. Nhưng nếu nhân duyên không thuận lợi sẽ khiêu gợi dậy lực lượng tiềm năng phi thường trong mỗi con người.

Bởi vì nhân duyên không thuận lợi đó trở thành “nghịch tăng thượng duyên” khích lệ, cổ võ chí hướng thượng. Điển hình như, khi cơ thể bất an, phát bệnh thì con người mới biết phát đạo tâm, chú ý đến sức khỏe và đi sâu vào nghiên cứu phương án phòng bệnh và chữa bệnh.

Cũng vậy, chúng ta có trải qua sự thọ nhận đau khổ mới nghĩ đến phương cách cải thiện hoàn cảnh và dũng mãnh phấn đấu cải tiến kế hoạch cuộc sống.

Trong thế giới tự nhiên, hoa mai sở dĩ được người ca tụng, là vì hoa mai có bản chất nhẫn nại tiếp nhận tuyết sương giá lạnh; khí tiết càng lạnh, hương thơm càng tỏa ngát. Tùng bách sở dĩ được người yêu thích, quý trọng là vì tùng bách không những không cách ngại sương hàn gió bấc đến mà càng gặp sương hàn gió bấc, tùng bách càng xanh tươi vươn thẳng mình đón tiếp. Banh da càng đánh mạnh, độ nhảy càng cao. Đá vôi nếu không qua lò đốt rừng rực lửa, làm sao có đủ năng lực trở thành vật liệu cần thiết lưu ở nhân gian?

Kìa! Chúng ta hãy nhìn xem, trong cơn cuồng phong bão táp mưa sa, cây liễu trúc mặc dù đơn độc lẻ loi, nhưng nó vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu, sừng sững thẳng mình cất cao khúc nhạc khải hoàn. Ở vùng Nam Bắc cực, quanh năm băng tuyết giá rét, các loài động vật sống trên vùng đất ấy vì sự sanh tồn mà không ngừng phấn đấu đối mặt với nghịch cảnh trắc trở gian nan và lấy đó làm tăng thượng duyên để nỗ lực vươn lên.

Nhìn thấy gió bão đánh ngã cây cối, không ai bảo ai, bản năng tự nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta tìm mọi phương cách chống đỡ để chúng trở lại tư thế sanh tồn tự nhiên. Trải qua cuộc động đất, nhà cửa phòng ốc bị sập đổ hư hoại; chỉ một sát na vô thường đến, toàn gia sản sự nghiệp bỗng chốc trở thành hoang dã, trắng tay, nhưng với niềm tin người còn tất sự nghiệp còn.

Thế rồi do sự dũng mãnh đối mặt với hiện thực vô thường kia khiến cho con người không ngừng phát minh ra những điều hay ý lạ, đồng thời không ngừng khám phá ra ra những bí mật trong sáng quý giá của đời sống nội tâm cũng như ngoại chất. Do vậy, người thanh niên có nghị lực cường tráng, thành tựu được nhiều cống hiến, càng gặp cảnh đối nghịch, bị người đối xử tỵ hiếm càng ra sức phấn đấu trau dồi kỹ năng, trau dồi tác phong đạo đức; và càng bị người khinh dễ, anh ta càng nỗ lực phấn đấu vươn lên bắt kịp cùng người.

Bậc cổ nhân thường nói: “Hàn môn xuất hiếu tử”; Thật vậy ở trong cảnh cơ hàn mới thấu suốt được lòng người con hiếu thảo. Xưa ngài Mẫn tử bị kế mẫu quở trách, chưởi mắng, đối xử khắc nghiệt, nhưng ngài vẫn không một lời than oán; ngược lại, lấy đó làm nghịch tăng thượng duyên tôi luyện chí hiếu, tạo nên nhân vật lịch sử người con chí hiếu ưu tú để gương chiếu sáng ngàn năm cho đời.

Trong cửa thiền môn đề xướng lấy nghịch tăng thượng duyên làm đề mục khích lệ và huấn tập hành giả nghị lực kiên cường dũng mãnh, bảo trì hạnh đức “bình thường tâm thị đạo” ứng phó với bất luận cảnh tình đông hàn gió bấc, hay cảnh tình nắng táp mưa sa. Do vậy, khi đông hàn giá lạnh đến, người hành giả hướng vào chốn sương giăng tuyết phủ để huấn tập; rồi khi tiết hạ nắng nóng cháy da, lại hướng về nơi mặt trời phát hỏa quang để tôi luyện thiền tập. Do sinh hoạt trong nghịch cảnh duyên như vậy mà hun đúc ra cho chính mình đời sống nội tâm phong phú với chí hướng thượng cao cả, tràn đầy nghị lực. Đồng thời hun đúc cho chính mình một tài sản kinh nghiệm vô giá.

Trên trang lịch sử Phật giáo Trung Quốc, nếu không có sự kiện giáo nạn "Tam võ nhất tông" xảy ra thì làm sao hiển hiện được lực lượng huy hoàng của Phật giáo. Nếu không có những uy quyền chuyên chế trùng trùng điệp điệp bức hại, tất sẽ không có sản sinh ra Đại sư Huệ Viễn cất lên tiếng gọi cao thiêng "hàng xuất gia không quỳ bái các bậc vương tước".

Nếu không có Do Thái phản Giêsu, thì Giêsu nào có được nhân duyên để hiển hiện thánh đức. Và nếu không có Đề Bà Đạt Đa cầm đầu chỉ đạo nhóm ngoại đạo bức hại, thì đức Phật Thích Ca cũng không có đủ yếu tố nhân duyên để hiển lộ thánh đức cao cả của đấng Thế tôn. Trên lộ trình cuộc sống, gặp phải tảng đá lớn chặn đường, chúng ta có thể bị vấp ngã bởi nó, hoặc giả chúng ta biết lợi dụng nó làm điểm tựa an ổn chân đứng để có thể đứng nơi đỉnh cao vọng tầm nhìn xa. Cuộc sống của con người thành công và thất bại đều do nơi chính mình khéo biết cách vận chuyển nghịch cảnh hóa thành tăng thượng duyên.

Bởi lẽ, không có đêm tối làm sao cảm nhận được công năng lợi ích vĩ đại của ánh sáng quang minh? Không có tội ác của đối phương, con người làm sao cảm thấu được đức hạnh chân thiện mỹ của bậc hiền nhân? Cũng vậy không có ô nhiễm cấu uế làm sao cảm nhận được niềm sảng khoái tươi mát của sự ngăn nắp, sạch sẽ? Không có pháp so sánh sai khác làm sao tìm ra được pháp thống nhất? Do vậy cái kỳ diệu của nghịch tăng thượng duyên là ở chỗ:

Người biết nghe, khéo nghe âm thanh vô thanh
Người biết nhìn, khéo nhìn tướng vô tướng
Người biết nói chuyện, khéo dụng ngôn vô ngôn

Giáo Dục Chính Mình

Cuộc sống của con người, khi tuổi thơ dại có cha mẹ giáo dục dạy dỗ; khi lớn lên đến tuổi đi học, tiếp nhận sự giáo dục dạy dỗ của các thầy cô giáo. Đến khi trưởng thành lại tiếp nhận sự giáo dục của xã hội. Trong các tầng cấp giáo dục đó, đều lấy sự giáo dục chính mình làm căn bản.

Giáo dục là sự uốn nắn, sự sửa đổi tập khí không thuần mỹ của con người trở thành tốt đẹp, khiến cho đời sống nhân cách được nâng cao. Người ngu độn sống với cuộc sống nhọc nhằn, đau khổ không kinh nghiệm; còn người thông minh tài trí thì nhạy bén, biết rút tỉa kinh nghiệm của người khác để tạo nên trí tuệ cho chính mình.

Người tầm thường như chúng ta có trải qua nếm mật nằm gai mới thấu hiểu được kinh nghiệm cuộc sống. Nếu chúng ta thời thời, khắc khắc chỉ biết nương dựa vào sự giáo dục chỉ bảo của người khác, mà không phát huy tiềm năng giáo dục chính mình, thì chẳng khác nào tương đồng với một bộ y phục nhiễm sắc từ ngoài mà có, không có vốn liếng gì riêng cho chính mình.

Y phục nếu không có bản sắc gì riêng cho chính nó, thì màu sắc nhiễm nhuộm kia sẽ nhanh chóng bị các yếu tố ngoại giới làm tan biến sắc chất. Cũng vậy, nếu tự chính mình biết tư duy, phản quan tự kỷ, tự mình hoàn thiện giáo dục, sửa đổi các tập khí không tốt đẹp của chính mình trở thành trong sáng tốt đẹp, thì mới tương xứng với ý nghĩa giá trị bản chất chơn thật thiện mỹ.

Con người chúng ta, mỗi người đều vốn có bản thể chân thiện mỹ. Bản thể đó được hiển lộ khi chúng ta biết tự mình khéo vận dụng pháp giáo dục chính mình.

Châu Xử trị được ba cái hại trong cuộc sống là do ông ta khéo nắm bắt được pháp tự mình giáo dục lấy chính mình, và không ngừng chân thành ăn năn sửa đổi những những lỗi lầm xấu dở của chính mình mà trở thành vị anh hùng danh thơm tiếng tốt trong lịch sử.

Trong lịch sử Phật giáo, Châu Lợi Bàn Đà Dà, tuy là người căn tánh ngu độn, nhưng do ông ta thành tâm khẩn ý vận hành pháp giáo dục chính mình một cách thấu đáo theo lời chỉ dạy của đức Phật: "Quét bụi trừ dơ." Cuối cùng, ông đã thành tựu được trình độ “minh tâm kiến tánh”, trở thành vị thánh đắc đạo A la hán quả.

Trong nghi thức Phật giáo, giáo dục chính mình gồm có các pháp: sám hối, thiền tập thiền quán, phản tỉnh tự nhận ra lỗi sai trái, tự mình đạt yêu cầu cải thiện lấy chính mình. Ngoài ra, cần phải tiến hành ba pháp học: Văn-tư-tu để giáo huấn; hoặc thông qua tham vấn thính giáo để giáo huấn; lại có lúc phải sử dụng đến pháp tư duy sâu sắc để hiểu rõ bản chất chơn thật của chính mình và sự vật để giáo huấn cải thiện.

Trong pháp giáo dục chính mính, thậm chí có lúc một mình học không thông, đọc cũng không suốt, nhưng nếu phát tâm chỉ dạy giúp đỡ người khác thì tự nhiên sẽ cảm nhận được kết quả diệu kỳ của sự dạy và học hỗ tương trưởng thành. Nếu có khả năng vận hành pháp "dạy và học" đạt đến trình độ thể hội, thì đó chính là đã thành tựu được điểm đích của sự giáo dục chính mình.

Ở vùng Đức Châu nước Mỹ có một vị già lão tên Kiều Trị, 98 tuổi mới bắt đầu cặp sách đến trường học để thoả mãn nguyện vọng mà bà ta đã ấp ủ từ lâu; lập ra kỷ lục thế giới: "người học sinh tiểu học cao tuổi nhất thế giới”. Bốn năm sau bà ta viết ra bộ tiểu thuyết dài. Thế là trên thế giới lại sản sanh được một nữ tác giả tiểu thuyết cao tuổi nhất. Vị nữ tác giả ấy, sanh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo khó, khi bốn tuổi đã phải xuống ruộng trồng bông gòn, không có cơ hội đi học; nhưng bà ta trong lúc xuống ruộng trồng bông gòn, nghe bà nội kể các câu chuyện, tự mình đã biết biến thành một loại hình thức học tập. Điều đó đã chứng minh rằng bà ta ngay từ nhỏ đã biết khéo vận dụng "tự mình giáo dục".

Ngày nay sự giáo dục, phần lớn đều là truy cầu học tập tri thức, học tập kỹ năng, học tập mưu lợi mà thiếu sót đi sự sanh hoạt giáo dục.

Thế nên, có vị học đến hàng tiến sĩ mà vẫn không biết cách sống làm người. Tốt nghiệp đại học cũng không biết cách pha trà mời khách. Đó là sự thất bại trong ngành giáo dục. Phật giáo giảng dạy gánh nước bửa củi đều là Phật pháp, chính là chú trọng sinh hoạt giáo dục.

Lời mà người xưa nói rằng: "Tình người viên dung tức văn chương", hàm ý nói rằng, một tác phẩm được xem là áng văn chương, điều kiện tự nhiên đòi hỏi nội dung và hình thức của tác phẩm đó phải thể hiện được chân tướng nhân tình, sự lý viên dung.

Do vậy, "giáo dục chính mình" là pháp học căn bản để hoàn thiện điểm đích cuộc sống nhân cách, đạo đức chân thiện mỹ mà đòi hỏi mỗi người chúng ta muốn thành tựu, thì không thể không vận hành.


Sức Mạnh Của Nụ Cười

Nụ cười là sắc tượng mỹ lệ nhất trên thế giới. Khuôn mặt rạng rỡ nụ cười đẹp gấp ngàn lần so với tô điểm má phấn môi son. Nhà họa sĩ Ý Đại Lợi Leonardo da Vinci họa nàng Mona Lisa với khuôn mặt rạng rỡ nụ cười đã trở thành bức họa sớm được thế giới công nhận là hình tượng đẹp nhất.

Nụ cười có sức mạnh vô cực. Trên lịch sử thế giới đã có biết bao triều đại chỉ vì nụ cười diễm lệ của mỹ nhân mà bị vong thân, mất nước. Điển hình như một nụ cười hé nở diễm lệ của Đắc Kỷ, đã làm vua Trụ say đắm, đánh mất cả giang sơn, dân tộc.

Dương Quý Phi với cái nháy mắt, mỉm cười duyên dáng đã khiến quân vương đắm say bỏ bê việc triều chính. Chu U Vương vì truy cầu nụ cười hy hữu của Bao Tự, mà cam tâm phung phí tiền của mồ hôi nước mắt của dân, sai hầu nữ xé biết bao tơ lụa để làm trò vui cho Bao Tự; thậm trọng hơn nữa, vua Chu đã đánh mất chữ “Tín” với bá tánh quần thần, lấy pháo đài làm trường hí kịch, đùa cợt dối gạt hàng chư hầu; cuối cùng phải mang lấy hậu quả tán thân, mất nước.

Thậm chí hàng phong lưu tài tử như Dương Bá Hổ chỉ vì một nụ mỉm cười duyên dáng tươi đẹp của nàng Thu Hương mà đã không tiếc bán thân mình làm kẻ tôi tớ mài mực cho nhà nàng, đến kết cuộc tạo nên trò hôn nhân nực cười lưu danh muôn thuở.

Tiếng cười không những có năng lực diễn đạt được tâm tình vui buồn, giận thương của con người, mà còn có thể biểu lộ được tánh chất trung thực, thiện lương, hay tánh chất tà ngụy, yêu ma, độc ác của lòng người, như đoạn kinh kịch dưới đây mượn dáng cười và tiếng cười để khắc họa tánh cách của từng nhân vật như giọng cười yêu ma của Tào Tháo, giọng cười cay đắng của Lưu Bị, giọng cười lạnh nhạt của Quan Công, giọng cười dối trá của Trương Phi, giọng cười mưu mô, ẩn tàng tính toán của Gia Cát Lượng, giọng cười u ám của Châu Công Cẩn.

Ngoài ra, qua dáng cười và tiếng cười của mỗi người mà có thể biết được phong cách và bản chất của người đó như cười hi hi, cười mỉm chi, cười ha hả, cười ngạo mạn, cười châm biếm, cười khểnh, cười gượng, cười thầm, cười xảo trá, mưu mô, thủ đoạn….Nụ cười là năng lượng tăng cường nhựa sống xanh cho cuộc đời. Con người chúng ta, mỗi khi mỉm cười tức đã có sự biểu lộ tình cảm; và sự biểu lộ tình cảm đó chính là vị nước cam lồ kỳ diệu tưới mát khắp đại địa, khiến cho muôn vạn vật đều trổi dậy nhựa sống.

Nụ cười là chiếc cầu thông thương mật thiết trong cuộc sống giao tế. Chính vì vậy bậc cổ nhân thường nói: Đưa tay đánh người, không ai nỡ đánh trên mặt người đang nở tươi nụ cười.

Trên vũ đài, sự biểu diễn của tên hề chính là muốn gây tạo nên cho người xem khai nở nụ cười thoải mái, vui vẻ. Thế nên trong cuộc sống bình nhật chúng ta cần nên giữ đưọc khuôn mặt tươi thắm nụ cười, thì khi nói chuyện mới có đủ sức thu phục lòng người; cùng người giao cảm, thậm chí giúp người lấy nụ cười hỷ hả để gạt đi nước mắt, chuyển buồn thành vui.

Điều mà chúng ta thường nói: “Trong lòng có vui thì mặt mới điểm nụ cười”. Vì vậy nụ cười không những chỉ là tác động trên khuôn mặt biểu lộ tình cảm, mà còn biểu lộ niềm vui trong lòng người. Nếu trong gia đình lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười thì chứng tỏ gia đình đó có cuộc sống rất hạnh phúc, vui tươi, hoà hợp.

Trong cuộc sống bình nhật, nếu chúng ta luôn luôn nở nụ cười hoan hỷ thân thiện để đối đãi với bất cứ khuôn mặt lãnh đạm nào thì trên chiến trường cuộc sống tất nhiên sẽ thu hoạch được lợi ích vô số kể.

Nụ cười là liều thuốc bổ vô giá; nhất là thời đại ngày nay, con người ta rất chú trọng màu sắc, chú trọng âm thanh. Do vậy, chúng ta cần nên thời thời khắc khắc giữ được khuôn mặt tươi thắm rạng rỡ nụ cười.

Lấy nụ cười để trang điểm cho cuộc sống căng thẳng; Lấy nụ cười để tịnh hóa xã hội cuồng loạn. Biến nụ cười xinh thắm ấy trở thành đóa hoa khả ái diễm lệ, tô điểm cho mảnh vườn sanh mạng. Đem nụ cười tươi đẹp ấy biến thành khúc nhạc tâm linh nồng ấm vi diệu cho chính mình và người.

Tình Yêu Chân Thật

Tình yêu là gì nhỉ?
Yêu là tình cảm riêng tư, nhưng yêu lại là sự phụng hiến; Yêu là sự nhiễm ô, mà yêu cũng lại là sự thanh tịnh. Yêu, có tình yêu nhỏ hẹp, vị kỷ cá nhân; có tình yêu bao la rộng lớn. Yêu có tình yêu ngu si, có tình yêu trưởng thượng cao cả.

Cuộc sống của con người có tình yêu mới có sức mạnh, và có yêu mới có niềm tin và hy vọng, bởi vì yêu là bản năng tự nhiên vốn có của nhân loại. Tình yêu đó chỉ cần hợp với pháp luật, hợp với ý thiện, hợp với đạo đức thì tình yêu đó vô cùng cao quý. Do vậy bậc cổ đức có câu: “Khi đã yêu thì tận chân trời góc bể cũng lặn lội tìm đến, mà không có tình yêu thì nửa bước đường cũng khó đặt chân đi”.

Sự tương thân tương ái giữa vợ chồng; sự tương ái tương kính giữa cha mẹ và con cái; sự tương kết tôn trọng yêu mến giữa bạn bè, như đồng với Bồ Tát cần phải đem tâm đại từ đại bi bình đẳng thương yêu tất cả mọi loài chúng sanh. Có tình yêu thương mới có thể rộng kết thiện duyên, và có yêu thương mới có thể sanh khởi thiện tâm.

Trong cuộc sống nhân gian, do có tình yêu thương mà bảo vệ và duy trì được nền luân lý, do có tình yêu thương mà chế định được các quy chế, quy luật trật tự sanh hoạt; giữ gìn bảo hộ mối quan hệ giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè. Tình yêu có hai hướng. Tình yêu chân chánh đòi hỏi phải có sự chân thành hiểu và thương cho nhau, và cùng nhau sách tấn chúc lành cho nhau. Bởi vì tình yêu thương không phải là sự chiếm hữu, mà là sự phụng hiến. Tình yêu nhỏ hẹp là tình yêu chỉ gói trọn trong tình cảm giữa mình và người mình thương; tình yêu quảng đại là tình yêu có mối quan hệ giữa mình và người khác với tâm từ bi bình đẳng. Tình yêu chánh nghĩa là tình yêu chân lý, yêu công lý, yêu quốc gia, yêu thế giới, yêu nền hòa bình của nhân gian.

Đứng trước tình yêu thương không có chỗ phân biệt, vật không đáng, không thích hợp với môi trường và vị trí chức năng thì không nên dụng tâm yêu thích. Người không đáng đặt tình yêu tri kỷ thì không nên tiến sâu mà gặp phải nỗi trăn trở “ăn đũa trả miếng”. Lại nữa không phải là việc thiện, việc tốt hay duyên thiện duyên lành thì không nên đặt tình yêu bừa bãi để tránh sự tai họa cho cuộc sống hiện tai và mai sau. Vì vậy tình yêu cần phải có cái nhìn trí tuệ tỉnh giác, yêu đúng chỗ, yêu đúng thời, yêu đúng người và yêu đúng việc.

Chúng ta hãy nhìn xem xã hội ngày nay, do lạm dụng tình yêu mà đã làm thoái hoá bản chất chân thiện mỹ của tình yêu. Bạn nhìn xem, có người dấn thân vào đời làm gái giang hồ mua hương bán sắc cho những người tham ái mỹ sắc. Lại nữa, do tham ái tiền tài vật chất mà biến thành kẻ trộm cắp tham ô, hoặc đối với vật không phải là của mình lại phi pháp chiếm hữu.

Tất cả những tình yêu đó không những chẳng phải là tình yêu chân thiện mỹ mà còn là nhân tố hại mình, hại người, tạo thành tội ác. Nếu tình yêu đúng nghĩa, xứng lý hợp đạo sẽ thành tựu được công đức lợi ích cho mình và cho người và đồng thời thành tựu được nét đẹp chân thiện mỹ thuần phong mỹ tục; Ngược lại, tình yêu không đặt đúng chỗ sẽ dẫn đến hành động bất nghĩa, sa vào cạm bẫy quấy nước đục trời đại loạn thiên hạ, để rồi dấn trọn đời mình trong biển ái đối đầu với sóng dập gió dồi.

Than ôi! bể ái mênh mông, tình dục vô mé, luân hồi khổ ải, làm người chúng ta sao không thức tỉnh hồi đầu chuyển thân. Lấy từ bi để tịnh hóa ái dục, lấy trí tuệ để lái thuyền vượt qua bể ái đến bờ giải thoát, lấy đức hạnh cảm hóa ái dục thành nhân ái, từ bi đem lại nền hòa bình an lạc cho nhân loại thế giới. Sanh mạng con người chúng ta là từ ái dục mà ra.

Vì vậy chúng ta càng nên lấy tình yêu chơn thuần, chánh nghĩa, trong sáng trọn niềm tin hiểu và thương để tô điểm tình yêu cuộc sống nhân gian ngày càng trang nghiêm, tươi đẹp, mỹ mãn.

(Trích trong “Nấc Thang Cuộc Đời”)

Để biết thêm về hoạt trình của HT Tinh Vân xin xem tiếp Phật Quang Sơn.

Source:  Tu Viện Quảng Đức       Oct 31, 2005