Người nào phát tâm, tu theo đạo Phật, nương theo chánh pháp, hiểu biết mọi người, đều có tánh giác, nhưng chỉ biết suông, chưa biết rõ ràng, một cách tường tận.  Chẳng hạn như là, mới chỉ biết được, các đồ trang sức, dù là vòng xuyến, hoa tai dây chuyền, nhẫn trơn nhẫn cưới, tuy có khác nhau, về mặt hình thức, nhưng mà tất cả, đều cùng bản chất, đó là chất vàng.  Cũng ý như vậy, tất cả mọi người, tuy không giống nhau, về các màu da, cũng không đồng nhau, về mặt kiến thức, cũng không hợp nhau, về các sở thích, cũng không cùng nhau, về các hình tướng, nam phụ lão ấu, nhưng mà tất cả, đều cùng bản chất, điều đó chính là: “Bản tâm thanh tịnh”, người nào cũng có.  Chẳng hạn như là, nếu không có việc, thù oán trước đây, cạnh tranh nghề nghiệp, ganh tị đố kỵ, đụng chạm tự ái, va chạm quyền lợi, chắc chắn mọi người, đối xử với nhau, rất là cởi mở, rất là tốt đẹp, rất là nhân đạo.

Hay nói cách khác: bản thân thanh tịnh, tất cả mọi người, giống nhau không khác, đều đồng nhứt thể.  Chỉ vì con người, tạo nghiệp khác nhau, cho nên sinh ra, hình tướng khác nhau. Có rất nhiều người, thường hay phát biểu: không ai chọc ghẹo, tôi hiền lắm đó!  Điều này chứng tỏ, mọi người đều là, thực sự hiền lành, bản tâm thanh tịnh, nhưng có điều kiện: không gặp nghịch duyên, không gặp trái ý!

Bản tâm thanh tịnh, không có hình tướng, không là một vật, ở trong kinh sách, thường được gọi là: Tánh giác Chân như, Diệu tánh Diệu đạo, Chân tâm Phật tánh, Pháp thân Huệ mạng, Trí tuệ bát nhã, Bản lai diện mục, Bản tánh sáng suốt, Bản thể chân thật, Bản nguyên thường hằng, Con người chân thật, Con người bất tử, Kim cang bất hoại, Tịch diện hiện tiền, Vô tâm Vô thức, Vô sanh pháp nhẫn, là Pháp vô sanh, là Pháp bất diệt, là Pháp bất tử, là Pháp tối thượng, là viên giác tánh.  Tùy theo kinh sách, tên gọi khác nhau, nhưng đều chỉ cùng, không phải một vật, từ xưa đến nay, từ trước đến nay.  Trong kinh Pháp Bảo Đàn, đức Lục Tổ có dạy: “bản lai vô nhất vật”, chính là nghĩa đó vậy.
                * *
3) Giai đoạn thứ ba: Sau một thời gian, học hiểu chánh pháp, đem lời Phật dạy, quán chiếu xét soi, hành động lời nói, ý nghĩ của mình, lúc đó mới hay, mình đã tạo ra, quá nhiều nghiệp xấu, còn nghiệp thiện lành, hình như chẳng có, chút nào đáng kể!  Ở trong bóng tối, cuộc đời của mình, nơi cuối đường hầm, có chút ánh sáng, le lói lung linh, đủ soi thấy bóng, con trâu còn đen.
PHÁP MÔN CHĂN TRÂU
Thích Chân Tuệ



LỜi TỰA


Kính thưa quí vị,

Người phát tâm tu học thường do dự khi đứng trước kho tàng kinh điển của Phật giáo, không biết phải bắt đầu từ đâu, tu tập như thế nào, cho được kết quả tốt đẹp.  Thậm chí không ít người đã tu hành nhiều năm, dù tại gia hay xuất gia, nhưng thân tâm vẫn chưa an lạc, cuộc sống vẫn còn lắm phiền não và khổ đau.

Đạo Phật là con đường giúp đỡ chúng sanh giác ngộ và giải thoát, cho nên người phát tâm tu tập cần phải có bản đồ, để việc tu hành bớt gặp chướng nạn, tu đúng chánh đạo, hành đúng chánh pháp.


một đóa hoa tươi
*****

xin học hạnh của đất
nhận chịu của thế gian
thơm tho và hôi thúi
hóa thành đóa hoa tươi

người đời tặng tên đạn
phê phán và phỉ báng
người tu tâm dưỡng tánh
hóa thành đóa hoa tươi


bản tâm thanh tịnh
*****

ngày mai ai cũng chết
ngày nay không tranh cãi
muôn sự không còn mãi
gắng giữ tâm thanh tịnh

niệm Phật hay tọa thiền
nên nhớ lời tổ dạy
nhứt định không tranh cãi
gắng giữ tâm thanh tịnh

Tập sách này là một đóng góp nhỏ, nhằm mục đích giới thiệu bản đồ, hay con đường tu tập trải qua những thử thách, đạt được những kết quả, từ lúc khởi đầu cho đến lúc viên mãn, dù hành trì theo bất kỳ tông phái nào của đạo Phật.

Nguyện đem công đức ấn tống kinh sách, cầu nguyện cho tất cả mọi người hữu duyên, tu tập tinh tấn, trọn thành Phật đạo. Hoan hỷ cúng dường tập sách này cho mọi dự tính trong tương lai, phổ biến dưới bất cứ hình thức nào nhằm mục đích ích lợi cho mọi người.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Kính bút,
Thích Chân Tuệ
Mùa Phật Đản 2628 (Phật Lịch 2548)
Khóa Nghiên Tu An Cư Năm Giáp Thân 2004


I. Mở đề:

Trong một bài hát, mọi người quen thuộc, có câu sau đây: “Ai bảo chăn trâu là khổ?  Chăn trâu sướng lắm chứ!”.  Đó là lời hát, mở đầu ca khúc, nói về sinh hoạt, của các mục đồng, chuyên nghiệp chăn trâu, ở nơi thôn quê.

Ở trong Phật giáo, chư vị Tổ sư, thường mượn hình ảnh, của người chăn trâu, để mà chỉ dạy, phương pháp tu tập, hàng phục tâm niệm, lăng xăng lộn xộn, và cách an trụ, bản tâm thanh tịnh.  Phương pháp tu đó, thường được gọi là:  “Pháp môn chăn trâu”.

Trên thế gian này, hầu như ai ai, thẩy đều nghĩ rằng, cũng tự cho rằng, mình là người thiện, không ai chịu nhận, mình là người xấu, mình là kẻ ác.  Nếu mình không phải, là người lương thiện, bực nhứt trên đời, thời mình cũng là, người không làm gì, gây nên tội lỗi, chắc là sau khi, từ giã cõi đời, được lên thiên đàng, được sang cực lạc, không có việc gì, đắn đo lo lắng.  Muốn chắc ăn hơn, nhớ dặn thân nhơn, sau khi mình chết, thỉnh thiệt nhiều sư, rước thiệt nhiều cha, mời nhiều ông bà, về nhà cầu nguyện, đăng báo phân ưu, tụng kinh cầu siêu, cầu chúc tiêu diêu, nơi miền cực lạc, hoặc thăng nơi cõi, thiên đàng vĩnh viễn!
Nếu như ai đó, có lời khuyên mình, tu tâm dưỡng tánh, thì liền nghĩ rằng:  người đó chắc khùng! Không khùng sao được, bởi chuyện tu hành, là việc quý sư, tu ở trong chùa, chuyện của quý cha, trong các tu viện, không phải là chuyện, người đời đang sống, ở ngoài thế gian, bận rộn lang thang, với trăm thứ chuyện, trần thế nhiễu nhương, tương đương đánh trận, lận đận khôn lường, lao đao khôn kể, còn thì giờ đâu, nói chuyện tu hành?

Có người nghĩ rằng: tu học làm chi, biết nhiều thêm khổ, không biết không tội, khỏi lội qua sông, tốn công học hỏi, khỏi có nhọc nhằn, như vậy khỏe re!

Thực ra chuyện đời, cũng như chuyện đạo, đâu ai có thể, lý luận nghĩ suy, một cách quá là, đơn giản như vậy! Con người vì bởi, vô minh che lấp, chân tánh chân tâm, nhiều đời nhiều kiếp, cho nên lăn lộn, sanh tử luân hồi, sống trong cơn mê, sống trong mộng tưởng, sống trong điên đảo, không hề hay biết.  Tại sao như vậy?  Bởi vì con người, sống trong cơn mê, vô tình cố ý, gây tạo quá nhiều, tội nghiệp oan khiên, liên miên vô kể, từ trước đến nay.
Chẳng hạn như khi, lái xe phạm luật, rồi tự cho là, mình không hề biết, luật lệ giao thông, được miễn tội sao? Chẳng hạn như khi, khai gian giấy tờ, rồi tự cho là, không biết ngoại ngữ, xong chuyện được chăng? Chẳng hạn như khi, mình gây tù tội, tạo bao phiền não, đem lại khổ đau, đến cho người khác, và gia đình họ, dù họ đáng tội, đáng bị trừng phạt, mình vẫn yên tâm, ăn ngon ngủ yên, có được hay chăng, cái tâm như vậy, đó là tâm gì?

Bởi vì con người, thích sống trong mộng, luôn luôn mơ ước, cảnh giới thiên đường, tây phương cực lạc, không biết không nhớ, sống trong hiện tại, không biết rằng mình, đang sống một đời, hết sức vô nghĩa, chẳng làm được gì, ích lợi cho ai, chỉ biết suốt ngày, nằm dài ăn ngủ, đủ thứ thụ hưởng, giành giựt đấu tranh, hơn thua phải quấy, rồi chờ đến ngày, phải chết là hết!

Bởi vì con người, sống trong điên đảo, cho nên nhận lầm, giả tưởng là thực, khổ cho là vui. Chẳng hạn như là: ai ai cũng biết, cờ bạc mua vui, thua lỗ là khổ, nhưng có nhiều người, vẫn cứ nhào vô, mình thắng người khổ, mình thua mình lỗ, tự mình chuốc khổ, chớ có than van!
Chẳng hạn như là: nhiều người cứ tưởng, cái xác thân này, chính là “mình” đây, sau này đương nhiên, mang cái xác đó, đi lên thiên đàng, hưởng phước giàu sang, hoặc mang xác đó, lên cõi cực lạc, thực sướng tấm thân! Đâu chẳng biết rằng: sau khi hết thở, chính cái xác này, gọi là thây ma, ai dám đến gần? Cát bụi rồi sẽ, trở về cát bụi!


Chính ngay lúc đó, chắc chắn con người, an nhiên tự tại, tự mình bước ra, khỏi màn vô minh, tự mình thoát khỏi, sanh tử luân hồi, không còn phiền não, chẳng còn khổ đau, cuộc sống hiện đời, an lạc hạnh phúc.  Ví như khi nào, mây đen tan hết, bầu trời trong sáng, mọi thứ cảnh vật, hiện rõ trước mắt, con người nhìn thấy, muôn sự mọi việc, “đúng như sự thực”, không còn mơ hồ, không còn điên đảo, nhận biết rõ ràng: “mình” là ai đây, không còn nghi ngờ, chút gì nữa cả.  Nhưng biết làm sao, để mà thức tỉnh, làm sao để được, trí tuệ bừng sáng?

Đó chính thực là, mục đích cứu cánh, chính Phật chỉ dạy, cũng là kết quả, tinh tấn thực hành: “Pháp môn chăn trâu”.

* * * * *
II. Khai triển:

1. Pháp môn chăn trâu qua kinh điển.

Trong tứ hoằng thệ nguyện, tức bốn lời nguyện lớn, thệ nguyện thứ ba là: “Pháp môn vô lượng, đều thệ nguyện học”, nghĩa là trong Phật giáo, có vô lượng pháp môn, hướng dẫn người tu tập, chúng ta thệ nguyện rằng: tất cả đều học hết.
Kinh Bát Đại Nhân Giác, phần đệ ngũ giác, đức Phật có dạy rằng: “Ngu si sanh tử, Bồ tát thường niệm, quảng học đa văn, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, giáo hóa nhất thiết, tất dĩ đại lạc”.  Chính vì ngu si, cho nên chúng sanh, trầm luân sanh tử, do đó Bồ tát, luôn luôn nhớ nghĩ, đến việc học rộng, nghe nhiều chánh pháp, tu tập sao cho, trí tuệ bát nhã, ngày càng tăng trưởng, được tài hùng biện, có thể giáo hóa, được nhiều chúng sanh, tất nhiên đem đến, nguồn an vui lớn, cho khắp muôn loài.

Trong sám Quy Mệnh có câu: “Tu học nhất thiết pháp môn, tất giai thông đạt”.  Chúng ta phát nguyện, tu tập học hỏi, tất cả pháp môn, đều được thông suốt, đạt thành chánh quả.
Trong kinh Di Giáo, đức Phật có dạy: “Tu tập hành trì: ví như chăn trâu, cầm roi canh chừng, luôn luôn kiểm soát, không cho xâm phạm, lúa mạ của người”. Tâm là con trâu, mục đồng là mình.  Như vậy trong số, vô lượng pháp môn, tu tập hành trì, đức Phật chỉ giáo, có một phương pháp, tu hành gọi là: “Pháp môn chăn trâu”.

Hôm nay chúng ta, phát tâm tìm hiểu, pháp môn chăn trâu, để đặng có thể, áp dụng triệt để, các lời chỉ dạy, của đức Thế Tôn, vào trong thực tế, đời sống hằng ngày, của người Phật tử, dù là tại gia, hay là xuất gia.

Khi nào chúng ta, hiểu được hành được, pháp môn chăn trâu, đâu không giác ngộ, bước vào cửa đạo, sau khi đã bước, vào chùa từ lâu, tâm trí nhập lưu, tiến vào dòng thánh, khác với dòng đời, tuy thân vẫn sống, ở trên trần đời, như bao người khác, mà tâm không hề, khổ lụy phiền đau.

Dòng thánh tức là, bốn quả vị thánh, hay tứ thánh quả, bắt đầu gồm có: quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, đến A na hàm, và A la hán.
Tất cả mọi người, hiểu được hành được, pháp môn chăn trâu, trí tuệ sáng ra, cuộc đời thay đổi, kể từ ngày này, đối với chánh pháp, không còn thoái chuyển, phát tâm thu tập, phát nguyện chăn trâu, việc ác ngưng làm, quyết làm việc thiện, không còn mặc cảm, tự tôn tự ti, an lạc hạnh phúc, bắt đầu ló dạng.

Tất cả mọi người, hiểu được hành được, pháp môn chăn trâu, không thích đi đâu, luẩn quẩn loanh quanh, lòng vòng bên ngoài, vừa ham vui chơi, thích thú hả hê, huyên thuyên nói cười, vừa kêu đau khổ, kêu khổ vừa xong, lâm râm cầu nguyện, van xin khấn vái, khẩn cầu thần linh, mê tín dị đoan, tiền mất tật mang, chẳng lợi ích gì, cầu an cầu siêu, đến cầu đoàn tụ, buôn may bán đắt, rốt cuộc cuối cùng, có được gì đâu?

Tất cả mọi người, hiểu được hành được, pháp môn chăn trâu, nếu là tại gia, thấy được chuyện xa, tu tâm dưỡng tánh, không phải chỉ là, việc người xuất gia, vào ở trong chùa, mà đó chính là: việc của mọi người, của chính thân mình, của bất cứ ai, tại gia xuất gia, muốn bớt đau khổ, xôn xao phiền não, muốn tự cứu mình, muốn cứu giúp người, cùng vượt ra khỏi, căn nhà hầm lửa, muốn được cảnh giới, an lạc hạnh phúc, trong lúc hiện tại, trong mọi hoàn cảnh, trên thế gian này.
                 * *
2. Ích lợi của pháp môn chăn trâu:
Trong kinh Di Giáo, đức Phật có dạy:

Từ nay về sau, giữ gìn tâm niệm, thúc liễm thân tâm, phát huy thiền định,  tức là chăn trâu, không cho xâm phạm, lúa mạ của người, tự mình cố gắng, thoát ra khỏi vòng, sanh tử luân hồi, bằng chính công phu, tu tập của mình, chứ lo cầu nguyện, cầu khẩn van xin, lệ thuộc người khác, tu tập giùm mình, đương nhiên không có, hiệu quả gì cả, làm sao giác ngộ, và giải thoát được?

Tụng kinh thiền quán, niệm Phật tọa thiền, chính là phương tiện, giúp đỡ chúng ta, chăn trâu tốt nhứt, bởi vì khi đó: thân được thanh tịnh, do ngồi ngay ngắn, yên thân một chỗ, khẩu được thanh tịnh, do miệng im lặng, hoặc tụng lời Phật, ý cũng thanh tịnh, bởi do tập trung, vào câu kinh kệ, nhớ nghĩ chư Phật, không khởi tạp niệm.
Tâm ý con người, ví như tượng Phật, đúc bằng vàng ròng, vô cùng trong sạch, vô cùng tinh khiết, vô cùng quý báu, nhưng vì chôn giấu, nhiều năm nhiều tháng, nên bị bao phủ, bởi quá nhiều lớp, cát bụi dơ bẩn, lẫn trong bùn nhơ, dầu hắc cứng ngắc.  Chúng ta chắc phải, ra công cạo gọt, mài giũa sửa chữa, tu bổ bồi đắp, tận tâm tận tình, tận sức tận lực.  Cạo được phần nào, bụi đất vô lượng, tượng Phật hiển lộ, ánh sáng tương ứng.  Cũng như dẹp được, phần nào phiền não, con người tìm thấy, phần ấy an lạc, trong cuộc sống này.

Một thời gian sau, cho đến một ngày, tượng Phật vàng ròng, trở lại nguyên trạng, sáng chói rực rỡ, một cách toàn diện.  Người nào không chịu, ra công dọn dẹp, phiền não khổ đau, mà nguyện cho mau, về cõi tây phương, cực lạc niết bàn, đó chỉ là việc: không ngủ mà mơ, không tơ dệt lụa, đem cát đi nấu, mà muốn được cơm!

Tất cả chúng ta, Phật tử tại gia, hay ở tại chùa, cũng đều mơ ước, cuộc sống an lạc, và đạt hạnh phúc, trên thế gian này, cho nên phải biết, áp dụng hằng ngày, pháp môn chăn trâu, một cách tích cực, ngày cũng như đêm, trong mọi tình huống, trong mọi hoàn cảnh.

Chẳng hạn như khi, đang làm việc sở, ở chỗ đông người, hay đang học hành, ăn uống nghỉ ngơi, đi chơi ngoài phố, hoặc chỗ vắng người, chúng ta nên biết: tập trung tư tưởng, vào việc đang làm, vào việc học hành, nghỉ ngơi ăn uống, đông người vắng người, chỗ nào cũng vậy, không để tâm ý, nghĩ ngợi mông lung, nhớ nghĩ lung tung, lăng xăng lộn xộn, chộn rộn không ngừng.

Bất kỳ khi nào, tư tưởng bắt đầu, nghĩ quanh nghĩ quẩn, chúng ta biết ngay, con trâu xổng chạy, bèn chăn giữ ngay, không chạy theo nó, bị nó kéo lôi, nổi trôi khắp chốn, dẫn mình đi rong, khó mong trở lại, có khi đến chỗ, tạo tội tạo nghiệp.

Tức là chúng ta, tích cực chăn trâu, trong mọi hoàn cảnh, nhứt là trong lúc, rảnh rỗi nghỉ ngơi, không có rong chơi, không có buông lung, nhớ nghĩ lung tung, lơ là lơ lỏng, hỏng cả việc tu, thời gian phí phạm.  Do đó cuộc sống, có ý nghĩa hơn, tận dụng thời giờ, tu tập chăn trâu, không còn phải tìm, cách giết thì giờ, trống trải dư thừa, bằng những cuộc vui, giả tạm trần thế.  Tập trung tư tưởng, không tâm lo ra, không ý nghĩ bậy, tức nhiên đạt được, năng suất làm việc, chất lượng cao hơn, kết quả tốt hơn.

Chẳng hạn như khi, đang ngồi nghỉ ngơi, nhưng không nghĩ ngợi, hay đang nằm nghỉ, dưỡng sức an thần, trước khi làm việc, hãy để tâm trí, bình yên trống rỗng, lặng lẽ tịch tịnh, không hề dấy khởi, vọng tâm vọng tưởng, vọng thức vọng niệm.  Chúng ta chỉ cần, thiền định như vậy, trong vài mươi phút, sẽ thấy thân tâm, đều được thoải mái, khinh an nhẹ nhàng, khỏe khoắn vô cùng, tức nhiên năng suất, khả năng làm việc, chắc chắn sẽ cao, kết quả sẽ tốt.
Chẳng hạn như khi, kẹt xe trên đường, hay chờ đợi ai, chờ đợi việc gì, đừng phí thì giờ, một cách vô ích, có thể áp dụng, pháp môn chăn trâu, để giữ tâm trí, bình tĩnh thản nhiên, an vui tự tại, không có tâm trạng, ưu tư lo nghĩ, bồn chồn lo lắng, thấp thỏm phập phồng, lo âu sợ sệt, nóng nảy giận hờn, hơn thua phải quấy, nhân ngã thị phi.  Thời gian chờ đợi, sẽ qua rất mau, một cách hữu ích.

Lúc đi ngoài đường, nếu trong tâm trí, khởi niệm bất thiện, hay niệm ác nào, lập tức chận ngay, đừng hay dắt dẫn, con trâu điên đó, về đến nhà mình.  Làm được như vậy, gia đạo bình yên, không ai trong nhà, bị con trâu điên, từ bên ngoài vào, húc càn bừa bãi.

Giống như ngày xưa, cổ nhân khuyên bảo, trước khi đi ngủ, mỗi đêm nên nhớ: kiểm điểm việc làm, lời nói ý nghĩ, tạo tác trong ngày, bằng cách dùng một, cái hũ trống không, rồi bỏ vào hũ, một hột đậu trắng, tượng trưng cho một, hành động tốt đẹp, một lời nói khéo, một ý nghĩ thiện, và bỏ vào hũ, một hột đậu đen, tượng trưng cho một, hành động xấu xa, một lời nói thô, ý nghĩ bất thiện.

Thoạt đầu thông thường, ai ai cũng thấy, trong hũ của mình, có nhiều đậu đen, hơn là đậu trắng.  Nếu chịu khởi công, phát nguyện tu sửa, tu tâm dưỡng tánh, một thời gian sau, trong hũ có nhiều, đậu trắng hơn đen.  Cho đến một lúc, không còn đậu đen, cũng đúng là lúc, khỏi cần đậu đen, hay đậu trắng nữa.

Chính đó là lúc: “Tâm cảnh nhất như”, con người trở nên, toàn chân thiện mỹ, người trâu đều mất, ngã pháp đều không, cả hai dứt hết.  Tâm không loạn động, cảnh trần bất nhiễm.  Tu tập đến chỗ, rốt ráo như vậy, các tranh chăn trâu, không cần đến nữa.  Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn dứt, chính là nghĩa đó.

Ví như sau khi, vượt qua sông biển, đến bờ bên kia, là bờ giác ngộ, là đáo bỉ ngạn, tức nhiên hành giả, buông lái bỏ thuyền, không ai lên bờ, lại còn vác theo, chiếc thuyền chiếc bè, trên vai làm chi, cho thêm nhọc nhằn.

Cũng như thuốc men, cần khi chữa bệnh, hết bệnh thì ngưng.  Cũng như sau khi, giặt sạch chiếc áo, phải xả bỏ hết, xà bông bột giặt, dính trên chiếc áo, không ai tiếc rẻ, để lại xà bông, còn dính trên áo, rồi mặc trở vào.
Trong kinh Kim Cang, đức Phật có dạy:

“Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp”.
Pháp cao còn bỏ, huống là các pháp”.  Khi đã đạt được, bản tâm thanh tịnh, bản tánh sáng suốt, nghĩa là đạt được, trạng thái vô ngã, tự tại niết bàn, đâu còn chấp chặt, công phu tu tập, chính là bản ngã, làm chi nữa chứ.
Chúng ta nên biết: pháp môn chăn trâu, không cần thời khắc, không cần tràng hạt, không cần chuông mõ, không cần tọa cụ, không cần tại gia, hay là tại chùa.  Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào, bất cứ cảnh nào, chúng ta cũng đều, có thể áp dụng, pháp môn chăn trâu, để tự tạo dựng, cho mình cho người, sinh hoạt chung quanh, một cuộc đời mới, an lạc hạnh phúc, ngay lúc hiện đời, một cách tích cực, chứ không van xin, cầu khẩn thần linh, thiên địa gì cả.

Nếu như không biết, pháp môn chăn trâu, cứ thả con trâu, tha hồ đi đâu, làm gì mặc kệ, húc càn đàng đông, báng bừa đằng Tây, xây qua xây lại, chạy ngược chạy xuôi, chạy lui chạy tới, xóm dưới làng trên, gây nên tai họa, cho bao người quen, cũng như không quen, ở chung quanh mình.

Chẳng hạn như trong, một buổi hội họp, hay trên diễn đàn, người nào không biết, pháp môn chăn trâu, đâu cần chăn trâu, tha hồ thả trâu, tới đâu thì tới, mới dám mở lời, phê phán bình phẩm, lẩm ca lẩm cẩm, chê trách chỉ trích, phỉ báng chế nhạo, ngạo mạn khinh người, cười chê tất cả, phê bình lung tung, linh tinh lang tang, nghing nghing ngang ngang, leo thang sinh sự, từ chỗ người thân, lân đến kẻ thù, từ người quen biết, riết rồi phê luôn, kẻ chưa quen biết, từ vị nguyên thủ, chí đến thứ dân, quan quyền trưởng giả, bàn dân thiên hạ, từ hàng thượng tọa, chí đến sa di, nếu nói năng chi, cũng đều bắt lỗi!

Ôi thôi người ôi, một con trâu đen, chạy húc lung tung, còn đáng sợ thay, nếu cả một bầy, trâu đen điên cuồng, xổng chuồng tuôn ra, tìm húc người ta, chạy la hổng kịp, thì là chẳng biết, hậu quả thế nào, thương tích ra sao, đặng mà cứu chữa!

Chẳng hạn như khi, rảnh rỗi ngồi không, chẳng trông việc gì, người nào không biết, pháp môn chăn trâu, để cho tâm trí, đi đâu thì đi, nghĩ ngợi lung tung, linh tinh lang tang, cho trâu mặc tình, dạo khắp xóm làng, có khi chợt nhớ, chuyện xưa thuở nào, đâm ra bực tức, tâm trạng bất an, tai hại vô cùng.  Tai hại hơn nữa, không kịp cứu chữa, nếu cứ tiếp tục, theo dòng tư tưởng, tức là con trâu, sẽ dẫn dắt mình, đến chỗ tạo tội, tạo thêm nghiệp mới.  Chúng ta thử nghĩ, với tâm ý đó, lăng xăng lộn xộn, vọng tâm vọng tưởng, vọng thức vọng niệm, tạp nham như vậy, chúng ta có thể, về cõi tây phương, nương theo chư Phật, sống trong cảnh giới, niết bàn cực lạc, cùng chư Bồ tát, chư thượng thiện nhơn, liệu được hay chăng?

Con người thường có, tập khí nghĩ xấu, nói xấu người khác, khi gặp trần duyên, tâm trí chẳng yên, nằm ngủ thường xuyên, mơ toàn ác mộng, bao giờ biết đến, cảnh giới niết bàn? Công phu như vậy, chưa được thuần thục, dù ở tại chùa, hay ở tại gia, cũng như gặp ma, bao giờ gặp Phật?
Chúng ta nên biết: sở dĩ đức Phật, luôn luôn giữ được, nụ cười siêu thoát, bởi vì thân tâm, của đức Thế Tôn, thực sự an lạc.  Do đó những người, dù có tâm ác, nghiệp chướng nặng nề, khi về với Phật, cũng liền trở thành, hiền thiện hơn xưa.

Trong khi Lăng Nghiêm, đức Phật có dạy:

  * *
3. Mười bức tranh chăn trâu đại thừa và thiền tông.
Pháp môn chăn trâu, đã có từ lâu, thường được minh họa, thành nhiều bộ tranh, tùy theo tông phái, xếp thành hai loại: khuynh hướng đại thừa, khuynh hướng thiền tông. mỗi bộ gồm có, mười bức tranh vẽ, nên được gọi là: “thập mục ngưu đồ”.

Thập mục ngưu đồ, tức là các bộ, mười tranh chăn trâu, khởi đầu trâu đen, dần dần đổi trắng, từ trên đỉnh đầu, xuống tới thân mình, sau rốt đến đuôi.  Đó là tượng trưng, các pháp môn tu, công phu hành trì, tiến từng nấc thang, giác ngộ giải thoát.  Cái tâm vọng động, lần hồi gạn lọc, cấu nhiễm trần gian, đầy tham sân si, rồi sáng dần lên,  từ chỗ vô minh, đạt tới cảnh giới, vòng tròn viên giác.  Cũng như nhờ được, chăm nom chăn dắt, con trâu hoang dã, đã đen nhiều kiếp, thuần thục dần dần, tự thắng bản năng, tự tăng trí tuệ, đến chỗ tự tri, thảnh thơi tự tại, vô ngại niết bàn.

Ý nghĩa tổng quát, các tranh chăn trâu, khuynh hướng đại thừa, khuynh hướng thiền tông, không khác nhau nhiều, cùng đều diễn tả, đường lối tu tập, tuy nhiều pháp môn, tùy theo căn cơ, hoàn cảnh sở thích, song không ngoài việc: an tâm loạn động, trụ tâm thanh tịnh, mục đích cứu cánh, chính Phật chỉ dạy, trong kinh Kim Cang.

Bộ tranh đại thừa, gồm có mười bức: chưa chăn mới chăn, chịu phép quay đầu, vâng chịu không ngại, tha hồ cùng quên, soi riêng dứt cả.

Bộ tranh thiền tông, không ngoài mười bức: tìm trâu thấy dấu, thấy trâu được trâu, chăn trâu cỡi trâu, quên trâu quên người, về nguồn vào chợ.
* *
4. Mười giai đoạn tu tập theo pháp môn chăn trâu:
Từ lúc còn nhỏ, con người gây tạo, biết bao nghiệp lành, và nghiệp chẳng lành.  Có người từ nhỏ, đã tỏ từ tâm, thích làm việc tốt, giúp đỡ an ủi, những người chung quanh, từ trong gia đình, ra đến học đường, và ngoài xã hội.  Đồng thời cũng có, những đứa trẻ con, nghịch nghịch ngợm ngợm, nghing nghing ngang ngang, phá phách xóm làng, văng tục chửi thề, hỗn hào xấc xược, gạt gẫm người già, trộm gà bắt vịt, nghịch phá nhà người, chặt cây trộm trái, hái hoa bứt lá, chọc chó đá mèo, leo trèo khắp trốn.  Lúc còn trẻ tuổi, tạo nghiệp như vậy, nếu biết dừng nghiệp, chuyển nghiệp kịp thời, thì vẫn có thể, trở nên người tốt, ích lợi bản thân, cho cả gia đình, và cho xã hội.

Cuộc sống đời nay, các xứ tây phương, văn minh tiên tiến, dư thừa vật chất, thiếu phần đức dục, có những đứa trẻ, biết kêu cảnh sát, đến bắt cha mẹ, chỉ vì rầy la, hay là roi vọt, răn dạy bọn chúng, có những đứa trẻ, dùng dao đâm người, mang súng vào lớp, giết người hàng loạt! Thực là khủng khiếp!

Đến khi lớn lên, bước chân ra đời, cuộc sống khó khăn,con người bon chen, tranh đấu sống còn, cho nên bất chấp, mọi thứ thủ đoạn, miễn sao có lợi, cho mình thì thôi, người khác ra sao, đau khổ thế nào, sống chết mặc kệ!

Con người sẵn sàng, thượng đội hạ đạp, để được tiến thân, để giành quyền lợi, để đợi thời cơ, để mơ địa vị.  Chỉ vì ganh tị, đố kỵ cho nên, con người sẵn sàng, loan truyền tin đồn, mặc kệ đúng sai, phổ biến thư rơi, bôi lọ kẻ thù, nói xấu sau lưng, đặt điều thêm bớt, vu oan giáo họa, hại người tàn tạ, te tua tơi tả, mới là hả dạ.

Con người sẵn sàng, đá giò lái bạn, đâm lưng chiến sĩ, thưa gửi kiện tụng, đụng độ đồng nghiệp, hạ nhục đồng môn, đem chôn đồng bào, cào nhà đồng đội, dội nước đồng hương, chẳng thương  đồng đạo, giả tạo đồng minh, tất cả cũng vì, đồng tiền mà thôi!

Người nào thua mình, khinh khi biếm nhẽ, nhìn nửa con mắt.  Người nào hơn mình, tức giận gièm pha, phá cho tan nhà, nát cửa chửa thôi.

Tất cả việc làm, lời nói trên đây, đều được chỉ huy, bởi do tư tưởng, ý nghĩ con người.  Nói một cách khác: tư tưởng chủ động, chỉ huy phát xuất, hành động lời nói.  Người có tư tưởng, hay tâm ý thiện, thì có hành động, và lời nói thiện.  Người có tư tưởng, hay tâm ý ác, thì có hành động, và lời nói ác.  Như vậy phải biết, tâm ý con người, có lúc hiền thiện, có lúc ác độc, bởi vậy cho nên, hành động lời nói, lẫn lộn thiện ác. Tâm ý con người, từ xưa đến nay, từ đông sang tây, lăng xăng lộn xộn, hằng ngày như vậy.
Ở trong kinh sách, tâm ý con người, thường được ví như, con vượn chuyền cây, con ngựa chạy rong, nên được gọi là: “tâm viên ý mã”.  Con ngựa chạy rong, tung tăng khắp chốn, khó mà điều khiển, thuần phục dễ dàng.  Con vượn chuyền cành, từ nhánh cây này, sang nhánh cây khác, cũng như tâm ý, của một con người, nghĩ ngợi lung tung, linh tinh lang tang, hết chuyện lầm than, quay sang hưởng thụ, cũng còn chưa đủ, chuyện đông chuyện tây, chuyện ta chuyện tàu, hết chuyện tầm phào, đến chuyện tầm bậy, hết chuyện người này, đến chuyện người khác, gia đình hàng xóm, thế giới năm châu, ở đâu cũng tới, hang cùng ngõ hẻm, khoa học kỹ thuật, chính trị tôn giáo, quốc gia đại sự, phụ nữ nhi đồng.

Ở trong thiền tông, tâm ý con người, thường được ví như: trâu đen trâu trắng.  Con trâu thường ngày, không được chăn giữ, thường hay xâm phạm, giẫm đạp lúa mạ, của các người khác, gây nhiều thiệt hại, tổn thất hoa màu, hư hại mùa màng, của người láng giềng, lân cận chung quanh, đó là trâu đen.  Nếu được chăn dắt, săn sóc thường xuyên, chăm nom kỹ lưỡng, canh chừng cẩn thận, đem lại bao nhiêu, ích lợi lớn lao, cho các nông gia, và cho xã hội, đó là trâu trắng.

* *
Bây giờ chúng ta, bắt đầu tìm hiểu, tiến trình thực hành, pháp môn chăn trâu, qua mười giai đoạn:

1) Giai đoạn thứ nhứt:  Thoạt đầu không biết, con trâu của mình, đang ở nơi đâu, và đang làm gì?  Tức là con người, thường không nhận ra, tâm ý của mình, ở ngõ ngách nào? Chẳng hạn như là: mình đang nghĩ gì, muốn làm việc gì, âm mưu chuyện gì, tính toán điều gì, thiện hay là ác, tốt hay là xấu, lành hay là dữ, hiền lương bất lương? Con người đang sống, trôi theo dòng đời, thường bị cuốn trôi, lôi theo ngũ dục, thường ngày hay bị, “con trâu tâm ý”, dụ dỗ dẫn dắt, đi làm những chuyện, bất nhân thất đức, miệng nói các lời, lợi mình hại người, cười vui cay nghiệt, thiệt là độc ác, tác hại khôn lường, thường khi chẳng biết.  Hành động lời nói, ý nghĩ thường ngày, hay bị tam độc, là tham sân si, lôi cuốn thúc đẩy, điều khiển sai khiến, con người gây tạo, biết bao tội nghiệp, không hề hay biết, hoặc có hay biết, mà vẫn cố phạm!

Thí dụ như là: tâm tham lôi cuốn, thấy lợi thì tham, chẳng muốn đi làm, chỉ muốn hưởng thụ, lại đủ tiền xài, tức ham phát tài, theo cách bất lương, nên không ngần ngại, kiếm chuyện vu oan, giá họa người khác, nộp đơn kiện tụng, dụng tâm hại người, bày chuyện thiệt hơn, đòi phải bồi thường, ba bốn triệu bạc!


Thí dụ có người, đã từng giúp mình, được rất nhiều chuyện, nhưng khi chỉ có, một chuyện không được, hài lòng vừa ý, tâm sân thúc đẩy, mình liền cảm thấy, tức giận khó nguôi.  Ơn nghĩa trước đây, sâu dầy thế mấy, cũng đều phủ sạch, không thèm nhớ tới, nhắc tới làm chi.

Thậm chí có khi, là cha mẹ ruột, sanh thành nuôi dưỡng, từ nhỏ đến nay, bây giờ khôn lớn, có vợ có chồng, nếu như cha mẹ, hoạnh họe lôi thôi, tâm si sai sử, điều khiển khiến mình, từ ngay cha mẹ! Bạn bè thân thiết, quen biết rất nhiều, trải qua tháng năm, hy sinh giúp đỡ, thế nào chăng nữa, thì cũng mặc kệ, vì tham danh lợi, nhứt là vì tiền, mình vẫn trở mặt, bán đứng như thường!

Con trâu lúc này, thực là đen thui, lại lẩn bên trong, bóng đêm mờ tối, của chuyện thị phi, thế gian thiên hạ, cho nên con người, không nhận ra nó, đang ở nơi đâu, và đang làm gì.
Người nào phát tâm, thâm nhập giáo lý, hết lòng tu tập, nhờ có học hỏi, mới tin nơi mình, có tâm chân thật, bất sanh bất diệt, ngoài cái xác thân, tứ đại giả tạm, nhưng mình chưa hề, bao giờ sống được, với chân tâm đó, bởi vì mình chưa, biết cách chăn trâu.  Học hỏi kinh sách, như kinh Hoa Nghiêm, chúng ta được biết, đức Phật dạy rằng:


Hoặc khi gặp phải, những kẻ ngoại nhân, không tu chẳng học, trốn tránh trần thế, mượn áo tu sĩ, nói quàng nói xiên, đem đời vào đạo, cơm gạo qua ngày, bày thi văn học, văn nghệ văn gừng, tưng bừng ca hát, náo động thiền môn, đại ngôn thi sĩ, văn sĩ kiêm luôn, thầy bà địa lý, thầy tụng đám tang, thầy bùa thầy bói, coi ngày tốt xấu, cưới gả ma chay, thật thảm thương thay, những người như vậy! Nhìn lại chỉ thấy, sinh hoạt thường nhựt, của ngày tháng qua, chẳng gì mới lạ!

Tại sao như vậy? Bởi vì ở trong, cuộc sống hằng ngày, chúng ta quen chạy, theo cảnh bên ngoài, khởi nhiều vọng tâm, vọng tưởng vọng thức, vọng niệm liên miên, khiến cho tánh giác,  thường bị che khuất.  Tánh giác của mình, chính ở nơi mình.  Khởi công tìm kiếm, là khởi vọng niệm, xa lìa tánh giác.  Cũng như có nhiều, mây đen che khuất, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng.  Chẳng hạn như khi, mắt thấy hình sắc, xinh tươi tốt đẹp, hạp nhãn vừa lòng, khởi tâm ham muốn, mua sắm về nhà, chiếm đoạt sở hữu.   Chẳng hạn như khi, tai nghe âm thanh, ca tụng tán dương, vừa tai hạp ý, say mê thích thú, khởi tâm đắm nhiễm, muốn được nghe tiếp.  Chẳng hạn như khi, tiếp xúc với ai, ngọt ngào tử tế, có lợi cho mình, liền khởi tâm thương, cho là người tốt, không vừa ý ai, thì khởi tâm bực, cho là người xấu.
Đây là giai đoạn, của một người tu, tại gia xuất gia, chưa biết chăn trâu, tức là chưa biết, giữ gìn kềm chế, tâm niệm của mình, để tâm buông lung, nghĩ ngợi lung tung, linh tinh lang tang, chạy theo cảnh đời, tạo tội tạo nghiệp, rồi bị nghiệp dắt, vào trong lục đạo, sanh tử luân hồi, xa lìa tánh giác.



                 * *
2) Giai đoạn thứ hai:  Đến khi nghe được, bạn đạo bàn chuyện, “pháp môn chăn trâu”, mình mới bắt đầu, thấy dấu chân trâu, nhưng vẫn chưa thấy, nguyên hình con trâu.  Điều này tức là, con người thỉnh thoảng, có cái cảm giác, mình làm việc thiện, thỉnh thoảng cũng có, cảm giác rằng mình, làm việc bất thiện, nhưng chưa phân biệt, việc nào là thiện, việc nào bất thiện, bởi vì chưa hiểu, chưa biết chánh pháp.

Trong giai đoạn này, mình nhận biết được, tâm ý của mình, thay đổi liên miên, lăng xăng lộn xộn, lúc thích thế này, lúc thích thế kia.  Lúc muốn giúp đỡ, người này người kia, khi muốn hãm hại, người này người khác, lúc phát từ tâm, làm việc phước thiện, bố thí cúng dường, muốn làm người tốt, tạo được phước báu.  Lúc muốn sang đoạt, của cải tiền bạc, vốn liếng phần hùn, tác quyền tác phẩm, công ăn việc làm, trở thành kẻ xấu, tạo tội tạo nghiệp! Lúc muốn hùn phước, ấn tống kinh sách, đi chùa lạy Phật, góp quỹ từ thiện, cứu trợ nạn nhân, thiên tai bão lụt, muốn làm người tốt, tạo được phước báu.  Lúc tính mưu kế, vu khống kiện người, đòi hỏi bồi thường, hơn ba bốn triệu, trở thành kẻ xấu, tạo tội tạo nghiệp!

Lắm lúc nhiều khi, làm ăn bất chánh, gặp thời trúng mánh, giựt hụi quịt nợ, lường gạt sang đoạt, giả tạo thương tích, tròng tréo giấy tờ, khai gian hoàn cảnh, cờ gian bạc lận, dụ dỗ kẻ khờ, làm việc bất lương, vồ được một vố, tiền của khá lớn.  Con người sợ sệt, mang tội một mình, chắc đọa địa ngục, chịu nhiều khổ đau, bèn đem chút ít, tiền lẻ cúng chùa, trút hết tội lỗi, cho các nhà sư, gánh vác thay mình, hoa quả nhang đèn, hối lộ tượng Phật, để được tạm thời, an tâm chút chút!

Con người nhận thấy, con trâu của mình, đen thủi đen thui, quá sức to lớn, cảm thấy sợ hãi, bắt đầu vùng vẫy, cố gắng giẫy giụa, nói một cách khác, tức là ra sức, biện bạch bào chữa, cho những lỗi lầm, trong lúc hành động, cũng như lời nói, phát ngôn bừa bãi.  Đôi khi lắm lúc, con người tỏ ra, ăn năn hối cải.  Ví như sau khi, đọc kinh thủy sám, đức Phật chỉ dạy, một cách rành rẽ, những việc làm nào, những lời nói nào, những ý nghĩ nào, tạo tội tạo nghiệp, chúng ta mới biết, giựt mình tỉnh giấc, cảm thấy tội lỗi, chất cao như núi.  Cũng giống như là: “tấm gương chiếu yêu”, soi thấy tâm địa, yêu ma quỷ quái, ẩn tàng bên trong, hình dáng con người, nhờ “gương chiếu trâu”, chúng ta nhận thấy, một cách rõ ràng, từ trước đến giờ, mình luôn luôn nghĩ, tự kỷ ám thị, thấy chuyện mình tốt, che dấu tội lỗi, đã và đang làm, bằng các chiêu bài, bằng các danh nghĩa, bằng các bình phong, bằng các mỹ từ, đao to búa lớn.

Chẳng hạn như muốn, ám hại người nào, chỉ vì ganh tị, bèn khoác bên ngoài, các thứ chiêu bài: trừ gian diệt bạo, thế thiên hành đạo.  Chẳng hạn như muốn, tiêu diệt đối thủ, triệt hạ đối phương, cạnh tranh nghề nghiệp, bèn khoác bình phong: bảo vệ công lý, nêu cao chính nghĩa, tranh đấu tự do, bênh vực lẽ phải.  Chẳng hạn như vì, tham tiền tham vàng, tham lợi tham danh, sẵn sàng đấu tranh, hơn thua giành giựt, ngay cả với anh, với chị em ruột, ở trong gia đình, bất kể mẹ cha, mình cũng chẳng tha, biện bạch lý do: vì vợ vì chồng, vì con vì cháu, vì chuyện nhân nghĩa, mới làm như vậy!

Đâu chẳng biết rằng: vợ chồng con cháu, sung sướng thụ hưởng, của cải giàu sang, do mình tranh giành, đoạt được đem về, còn mình thì sao, lãnh đủ nghiệp báo, đời này kiếp khác.  Chúng ta nên biết: “có vay phải trả”, “mình làm mình chịu”, không ai thay được, dù là cha mẹ, dù là vợ chồng, hay là con cháu, không ai cứu được, dù có van xin, Phật trời cứu giúp, cũng chỉ vậy thôi.  Đó mới thực là: công bằng tuyệt đối!

Điều quan trọng nhứt, trong việc tu tập, tu tâm dưỡng tánh, chính là chúng ta, phải biết tường tận, pháp môn chăn trâu.

Nghĩa là chúng ta, phải biết phương cách, dừng các vọng tâm, vọng tưởng vọng thức, vọng niệm liên miên.

Đó thực chính là: công phu tu tập, theo lời Phật dạy, cố gắng cải thiện, cuộc đời của mình, chuyển hóa tâm tư, tránh điều phiền muộn, trở thành vô tư, an nhiên tự tại.
Chẳng hạn như khi, tâm tham nổi lên, lợi mình hại người, muốn được bạc triệu, xài chơi cho sướng, nghĩ cách hại người, bất chấp thủ đoạn, chúng ta liền biết, lập tức dừng ngay, không nên tiếp tục, theo đuổi vọng tâm, vọng tưởng vọng thức, vọng niệm đó vậy, tức là chúng ta, đã dừng được nghiệp, và chuyển được nghiệp.

Chẳng hạn như khi, tâm sân khởi lên, muốn hại người khác, cho đã cơn tức, cho được thỏa lòng, tự ái cao độ, muốn cho kẻ thù, chết phứt cho rồi,  hoặc ít ra cũng, khốn khổ khốn kiếp, tù tội te tua, tả tơi tan tành, xơ xác lá hoa, không thể kêu la, hết đường sinh sống, bức bách khổ não, thân tàn ma dại, bán gia bại sản, sự nghiệp tiêu tan, mất hết việc làm, đói rách nghèo nàn, mới thật hả giận, chúng ta liền biết, lập tức dừng ngay, không nên tiếp tục, theo đuổi vọng tâm, vọng tưởng vọng thức, vọng niệm đó vậy, tức là chúng ta, đã dừng được nghiệp, và chuyển được nghiệp.

Trong giai đoạn này, người nào phát tâm, chuyển hóa đời mình, quyết tâm muốn biến, phiền não khổ đau, thành ra an lạc, hạnh phúc hiện đời, nhứt định phải biết, pháp môn chăn trâu.  Người nào không biết, pháp môn chăn trâu, đuổi theo vọng tâm, vọng tưởng vọng thức, vọng niệm liên miên, đem ra thực hiện, tức là tiếp tục, tạo thêm nghiệp mới!  Người biết chăn trâu, tu tâm dưỡng tánh, sẽ liền thức tỉnh, quở trách chính mình: Lại muốn tạo tội, tạo nghiệp nữa rồi!  Muốn đọa hay sao? Dừng ngay lập tức!

Chuyện này khó khăn, không phải dễ dàng, cần nhiều thời gian, mới thực hành được.  Khi mình cưỡng lại, sức kéo con trâu, thực là điêu đứng, vất vả nhọc nhằn.  Lắm lúc gặp phải, hoàn cảnh trái ngang, kẻ chửu người mắng, hoặc khi gặp chuyện, bất bình trái ý, hãy tự nhủ thầm: một nhịn chín lành, cho nên phải nhịn, nhịn nhịn và nhịn, mới là phải đạo, mới là người hiền, mới là người tu.

Lập tức vọng tâm, vọng tưởng vọng thức, vọng niệm của mình, nổi lên chống lại, xui khiến xúi giục: Tại sao phải nhịn? Nhịn thì là nhục, cự thì phải đục, nhịn ở đàng chân, chúng lân đàng đầu, nhịn hoài thì chúng, được nước làm tới, nhịn hoài chúng khinh, chúng khi khờ dại, chúng mắng mình ngu, nếu như làm tới, không nhịn không ngưng, chúng biết tay ông, chúng ngán tay bà, cả nhà chúng sợ!

Ôi thôi người ơi! Tâm niệm như vậy, thực là con trâu, ngang tàng hoang dã, thực đã lâu đời, ngông cuồng ngược xuôi, rất khó chăn giữ.  Ngọn hỏa diệm sơn, tức là tâm sân, trong lòng mỗi người, thực là dễ sợ! Cần phải tìm được, cây quạt ba tiêu, trong Tây du ký, mới mong dập tắt, được lửa sân hận.  Cây quạt ba tiêu, là cái gì vậy? Đó chính thực là: ba điều cần tiêu, cần phải diệt trừ.

Như trong kinh sách, có lời phát nguyện:
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não.
Nguyện đắc trí tuệ chơn minh liễu.
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế thế thường hành bồ tát đạo.

Nghĩa là muốn dứt, phiền não khổ đau, nếu muốn đạt được, trí tuệ sáng suốt, đời đời tu tập, theo hạnh bồ tát, đem lại ích lợi, cho các chúng sanh, chúng ta phải nhớ, tiêu trừ tam chướng, nạn lớn cuộc đời, ba chướng gồm có: tội chướng nghiệp chướng, và sở tri chướng.  Do tâm tham lam, sân hận si mê, chúng ta gây tạo, bao nhiêu tội lỗi, không hề hay biết, hoặc dù có biết, mà vẫn cố phạm.  Do các thói quen, trong mọi hành động, lời nói tư tưởng, chúng ta tạo nghiệp, không biết bao nhiêu, không hề hay biết, hoặc dù có biết, mà vẫn cố phạm.  Do sự hiểu biết, kiến thức ngoài đời, từ những bằng cấp, địa vị quyền thế, hay những hiểu biết, ở trong nhà đạo, người đời hay gặp, không biết bao nhiêu, chướng ngại khó khăn, làm cho không thể, thấy được đạo lý, càng ngày càng bị, con trâu của mình, dẫn dắt đi hoang, quá xa quê hương, dù muốn trở về, cũng không còn kịp, không biết lối nào, trở về được nữa!

Người nào hữu duyên, được gặp chánh pháp, có nhiều thiện căn, nên khi thấy được, nguyên hình con trâu, liền nhận biết ngay, mình đã có tội, nhiều tội tày trời, từ trước đến giờ, chắc chắn sẽ phải, đền trả nay mai, không thể chạy đâu, cho thoát nghiệp báo, giựt mình tỉnh thức, lập tức ngưng ngay, hành động bất thiện, liền chừa bỏ ngay, lời nói độc ác, liền dẹp bỏ ngay, tư tưởng lợi mình, ý nghĩ hại người!

Đó là giai đoạn: chăn giữ con trâu
Chăn trâu nghĩa là: áp dụng chánh pháp, vào trong cuộc sống, của mình hằng ngày, dẹp trừ vọng tâm, vọng tưởng vọng thức, vọng niệm liên miên, chuyển hóa ba nghiệp, thân khẩu ý mình, bất lương bất thiện, thành ra ba nghiệp, hoàn toàn thanh tịnh.

* *
4) Giai đoạn thứ tư:  Lúc này con trâu, đã hiện nguyên hình, nếu không quyết tâm, chăn dắt con trâu, không chịu ra công, chế ngự thuần phục, con trâu tâm ý, người đời sẽ bị, cám dỗ dễ dàng, dễ bị sa ngã, dễ bị lôi kéo, đi vào con đường, gian tà ác đạo.  Chuyện gì con người, cũng đều dám làm, dù lời nói nào, cũng phun ra được, dù ý nghĩ nào, cũng dẫn tới chỗ, lợi mình hại người, chẳng chút vị tha, bất chấp thủ đoạn.  Cuộc đời đau khổ, vẫn hoàn khổ đau, không sao tránh được.
Trong giai đoạn này, người chăn còn yếu, con trâu còn mạnh, phải rất nhọc nhằn, lôi cổ nó lại, nhưng nó chống cự, trì chân ghì kéo, trở lại đường cũ.  Điều đó tức là: vọng tâm vọng tưởng, vọng thức vọng niệm, vẫn theo duyên trần, dấy khởi đều đều.  Con người thường sống, theo thói quen cũ, hằng ngày như vậy, rất khó điều phục, cho nên phải biết, thực sự quyết tâm, kiên gan trì chí, không được lơi lỏng, dù trong giây phút.

Chúng ta cùng nhau, chiêm nghiệm nghĩ suy, câu chuyện sau đây: Trên chuyến xe lửa, người lái ngủ say, còn các hành khách, vui chơi ca hát, nhảy nhót múa may, quay cuồng thỏa thích, cười nói huyên thiên, khoe của khoe tài, khoe giàu khoe sang, khoe nhà khoe xe, khoe con khoe cháu, nói láo xả giàn, nói xấu xóm làng, châm chích chọc chọt, khoái tỉ tì ti, lo ăn ngủ khì, nhìn trời ngắm mây, chẳng hay biết gì.  Không ai biết được: chẳng bao lâu nữa, vì không người lái, chuyến xe lửa đó, tốc độ sẵn có, sẽ trật đường rầy, lao xuống hố sâu, không còn dừng được, tất cả hành khách, mạng vong thảm tử, không xót một ai!

Trong lúc hưởng thụ, mọi người sẵn sàng, tranh chấp cãi vã, tranh giành phần phải, phần hơn phần tốt, phần thắng phần lợi, về phía của mình, bà con phe nhóm, ngày này ngày khác!  Đợi cho đến lúc, toa đầu xe lửa, lao xuống vực sâu, mọi người giựt mình, hoảng hốt la hét, mặt mày tái mét, lăng xăng lộn xộn, chộn rộn ngược xuôi, cầu kinh lần chuỗi, cầu cứu thánh thần, niệm Phật huyên thiên, kêu trời kêu đất, nhưng mà tất cả, đều quá muộn màng!

Cũng như vậy đó, tất cả chúng ta, đều cùng ở trên, chuyến xe định mạng, của cuộc đời này, trạm dừng cuối cùng, ai ai cũng biết: đó là nghĩa địa, hay là lò thiêu!  Thế xong một đời! Vậy mà khi còn, hít thở không khí, còn làm việc được, còn nói năng được, và còn suy nghĩ, người đời không ngừng, tạo tội tạo nghiệp, vì miếng cơm ăn, vì manh áo mặc, tự ái hơn thua, mua thù chuốc oán, tức giận người khác, ganh ghét tị hiềm, đố kỵ ích kỷ, tâm tánh nhỏ nhen, bon chen danh lợi, đợi chờ dịp may, luôn luôn thích thú, nhìn thấy người khác, phiền não khổ đau.  Tại sao như vậy? Con người thường nghĩ: đời của mình đây, còn dài lắm mà!

Đó là những lúc, mình làm mọi việc, thiện ác lẫn lộn, chuyện gì cũng dám, tạo phước cũng làm, tạo nghiệp chẳng từ! Thực ra nên biết, cuộc đời vô thường, danh lợi vô thường, tâm ý vô thường.  Vô thường nghĩa là: nay còn mai mất, chứ không tồn tại, vĩnh viễn muôn năm.  Tâm ý của mình, tạo tội tạo nghiệp, chắc chắn dẫn dắt, con người vào vòng, sanh tử luân hồi.  Tuy nhiên nên biết: tội nghiệp vô thường, nếu như mình có, ý chí mạnh mẽ, con người có thể, dừng nghiệp chuyển nghiệp!  Nếu biết kịp thời, dừng nghiệp chuyển nghiệp, chúng ta chắc chắn, tránh được bao nhiêu, hậu quả khó lường, khỏi được bao nhiêu, khổ đau phiền não!

Khi thấy con trâu, tức là chúng ta, thấy được bao nhiêu, ngày tháng trôi qua, trong cuộc đời mình, thực là phí phạm, tạo tội tạo nghiệp, đã quá nhiều rồi.

Có rất nhiều người, bề ngoài chơn chất, có vẻ hiền lành, nhu mì nhỏ nhẹ, nói năng từ tốn, lịch sự lịch sàng, ngôn ngữ đàng hoàng, nhưng mà bên trong, tư tưởng nảy sanh, bao nhiêu ý nghĩ, đen tối bậy bạ, miệng niệm nam mô, bên trong chứa cả, một bồ dao găm, đó chính thực là: con trâu tâm ý, cần phải chăn giữ.  Người nào phát nguyện, tu tâm dưỡng tánh, thực sự phải biết, pháp môn chăn trâu, để lâu không tốt!

Có người ân hận, ăn năn sám hối, về những khổ đau, vô tình cố ý, mình đã gây tạo, cho bao người khác, vì tâm tham lam, sân hận si mê.  Có người quẫn trí, mặc cảm tội lỗi, muốn chết cho rồi, để đền trả quả, nhưng vẫn cảm thấy, cũng còn chưa đủ.

Tuy nhiên những người, từ nơi chánh pháp, có chút trí tuệ, bắt đầu để dành, rất nhiều thời gian, để lo tu tâm, để lo dưỡng tánh, tìm gặp các bậc, thiện hữu tri thức, thầy lành bạn tốt, ở trong nhà đạo, cố gắng học hỏi, phương cách thế nào, lợi mình lợi người, ngõ hầu trả bớt, nghiệp báo đã tạo, đã gây đã vay, từ bao lâu nay.   Người nào biết lo, tu tâm dưỡng tánh, bắt đầu tìm cho, tâm ý của mình, một nơi nương tựa, để mà mong rằng:  đường đời sau này, không còn tai nạn, chẳng còn rủi ro, không lo vực thẳm, hiểm trở chông gai, để chuộc lại những, lỗi lầm đã tạo.  Tâm ý sám hối, mạnh mẽ như vậy, thúc đẩy nhiều người, phát tâm hành thiện, cứu người giúp đời.

Ngày xưa có người, vô minh lâu đời,  che lấp chân tánh, không được sáng suốt, cho nên lúc nào, cũng tìm mọi cách, phỉ báng đạo Phật, chê bai chánh pháp.  Cho đến một ngày, hoát nhiên tỉnh ngộ, vì quá ân hận, bèn định cắt lưỡi, từ lâu đã nói, những lời sằng bậy, gây nên không biết, bao nhiêu tội nghiệp. May nhờ gặp được, một vị thiền sư, vốn là anh em, tu hành lâu năm, hết lời khuyên bảo:  Nên dùng cái lưỡi, xưa nay phạm tội, để mà tuyên xưng, giảng giải chánh pháp, giúp cho nhiều người, liễu ngộ chánh đạo, hiểu biết rõ ràng, vô lượng pháp môn, tu tâm dưỡng tánh.  Như vậy mới là, phương cách tốt nhất, thực tâm sám hối, để tạo phước báu, hoàn trả nghiệp báo, đền ân chư Phật, ích lợi cho mình, cho muôn người khác.  Thời gian về sau, người đó trở thành, một vị thiền sư, chân tu đắc đạo, nổi tiếng khắp nơi.

Kinh Vị Tằng Hữu, đức Phật có dạy:
Tuy đã nhận được, mình thực sự có, bản tâm thanh tịnh, vậy mà đôi khi, nghe nói trái tai, thấy điều gai mắt, gặp chuyện bất trắc, trong tâm vẫn khởi, bực tức giận hờn.  Đó chính là lúc, con trâu của mình, lên cơn hung hăng.  Chúng ta luôn luôn, muốn làm người tốt, trở nên người thiện.  Nhưng nếu có người, bày mưu mách nước, chỉ chước kiếm tiền, dễ làm giàu nhanh, kiếm được vài triệu, bất chấp thủ đoạn, lợi mình hại người, do dự giây lâu, mình liền nghe theo.  Tức là chúng ta, bị con trâu lôi, tạo tội nghiệp mới, chứ còn gì nữa!


* *
5) Giai đoạn thứ năm:  Trong giai đoạn này, con người đã biết, pháp môn chăn trâu, nhiều khi vẫn bị, sức mạnh con trâu, dẫn đâu theo đó, kéo lôi ngược lại, có khi té ngửa, bò lê bò càng, u đầu xước trán.  Sau một thời gian, cố gắng nỗ lực, tu tập tinh tấn, tâm ý không còn, điên đảo mộng tưởng.  Vọng tâm vọng thức, vọng tưởng vọng niệm, khởi lên liền biết, biết rồi không theo, nên tự lắng xuống, thường xuyên tỉnh giác, không bị nghiệp lôi.

Tuy vậy nhưng mà, vọng tâm vọng tưởng, vọng thức vọng niệm, dấy lên đều đều.  Nghĩa là con người, vì phải lăn lộn, sống trong trần đời, nên luôn luôn bị, vọng tâm vọng tưởng, vọng thức vọng niệm, lôi cuốn che lấp, bản tâm thanh tịnh, quanh năm suốt tháng, cả ngày quên mất, con người chân thật, của chính tự mình, kinh sách gọi là: nghiệp thức che đậy, lúc làm người tốt, khi làm kẻ xấu, sanh tử tử sanh, mãi mãi luân hồi, không biết bao giờ, mới chịu dừng nghiệp, và chịu chuyển nghiệp.

Lúc nào con người, thực sự làm chủ, con trâu tâm ý, tức là làm chủ, thân và tâm mình.  Còn như khi nào, công phu chưa được, thuần thục cho lắm, chúng ta nên tránh, bớt các cơ hội, tiếp xúc với đời, gan dạ cắt đứt, các duyên liên hệ, thế gian bên ngoài, để cho tâm ý, bớt sự giao động, con trâu của mình, không có cơ duyên, nổi cơn điên cuồng, hung hăng dữ tợn.

xem tiếp

Sống hiện tại an lạc
*****

chuyện xưa đừng nhớ nghĩ
chuyện nay xin miễn bàn
chuyện mai còn chưa tới
sống hiện tại an lạc