Tam Phước
Thích Nguyên Hùng

Tam phước hay tịnh nghiệp tam phước là ba yếu tố tu tập căn bản của hành giả pháp môn Tịnh độ. Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, thì đây cũng chính là ba yếu tố tu tập quan trọng mà ba đời chư Phật, quá khứ, hiện tại và vị lai đều thực hành. Ba yếu tố đó là:

1. Thế phước, hay còn gọi là thế thiện, tức là những đạo lý, những lễ nghi, những nguyên tắc sống lành mạnh, lương thiện trong cuộc đời, có tính chất truyền thống, tồn tại từ xưa đến nay, như hiếu đễ, trung tín, lễ nghĩa… Chẳng hạn hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự thầy tổ, lòng từ bi thương người, thương vật, không sát hại vô cớ, giữ mười điều thiện v.v…

Như vậy, ở điều tịnh phước thứ nhất này đã cho chúng ta thấy, hành giả pháp môn Tịnh độ nói riêng, những người Phật tử nói chung, không kể tại gia hay xuất gia, khi thực hành tu tập theo Phật pháp hoàn toàn không có nghĩa phải từ bỏ tất cả những thói quen, những tập tục sinh hoạt có tính chất truyền thống tốt đẹp mà mình đã theo trước kia. Đây chính là câu trả lời hay nhất cho câu hỏi vì sao đạo Phật dễ dàng du nhập, tồn tại và phát triển ở bất kỳ quốc gia, lãnh thổ nào.

Thực tế lịch sử cho thấy, khi đạo Phật đi đến đâu, không hề thay đổi tín ngưỡng truyền thống của dân bản địa, mà ngược lại còn tô đẹp, làm giàu thêm kho tàng văn hóa, đạo đức của xứ sở đó. Mặt khác, điều tịnh phước thứ nhất này còn cho thấy, muốn trở thành người Phật tử, trước hết phải hoàn thành bổn phận làm người. Chúng ta không thể vì muốn vãng sanh về Tây phương Cực Lạc mà ngày đêm niệm Phật để cho cha mẹ đói được! Trong đạo Phật không có trường hợp người Phật tử như thế.

Vì vậy, Đại sư Ấn Quang từng dạy: "Muốn học làm Phật, làm Tổ, trước hết phải giữ pháp thánh hiền. Nếu như đức hạnh còn khuyết điểm, đạo lý luân thường còn sai lầm, làm người còn mang tiếng là tội nhân trong thiên hạ thì làm sao mà làm người Phật tử được?".

2. Giới phước, hay còn gọi là giới thiện, tức là những giới pháp do Đức Phật chế định, bao quát cho cả loài Người, chư Thiên, Thanh văn, và Bồ tát; gồm Tam quy, Ngũ giới, cho đến Cụ túc giới, không phạm oai nghi v.v…

Đặc biệt ở điều thứ hai này, theo Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh sớ thì, trong tất cả các điều giới nêu trên, một hành giả tùy theo hoàn cảnh, điều kiện và khả năng của mình, có thể phát tâm tiếp nhận một số giới luật thích hợp với bản thân. Nghĩa là không bắt buộc phải thọ lãnh bao nhiêu giới, mà chỉ nên thọ những giới điều thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của bản thân. Miễn là sau khi thọ lãnh bất cứ giới điều nào cũng phải giữ gìn cho cẩn trọng như giữ gìn đôi mắt của mình, đừng để sai phạm, hư nát.

Và điều quan trọng hơn hết là phải luôn luôn phát tâm hồi hướng. Hồi hướng tất cả công đức cho chúng sanh, và hồi hướng cho mình được về Tịnh độ. Chỉ cần như vậy là nhất định được vãng sanh. Do đó ngài Trí Húc mới nói: "Hoặc thọ đủ các giới, hoặc không thọ đủ các giới, hoặc giữ đủ, hoặc không giữ đủ, chỉ cần phát tâm hồi hướng, nhất định được vãng sanh".

3. Hạnh phước, hay hạnh thiện, là chỉ cho những người phát khởi tâm Đại thừa, tự bản thân mình và kêu gọi người khác cùng phát tâm Bồ đề, thâm tín nhân quả, tụng đọc kinh điển Đại thừa (mục đích là để khai mở trí tuệ, thấy được cảnh khổ đau trong cõi Ta bà, hướng tâm về Cực Lạc), đồng thời phát tâm làm sứ giả khuyến tấn, kêu gọi mọi người bỏ ác làm lành, phát nguyện vãng sanh Tịnh độ…

Điều phước thứ ba đề cao vai trò lợi tha. Mỗi hành giả pháp môn Tịnh độ trước khi "rủ người niệm Phật", phải bằng mọi cách làm cho họ phát khởi tâm Bồ đề. Phát khởi tâm Bồ đề chính là phát khởi tâm Đại thừa. Tâm Đại thừa là khẳng định mọi chúng sanh đều có Phật tính, ngay nơi tâm này là Phật. Cho nên, niệm Phật nhất định thành Phật, vì Phật ấy ở ngay trong tâm mình! Đó là ý nghĩa thâm tín nhân quả. Tin rằng gieo nhân nào sẽ gặt quả ấy. Tâm niệm chúng sanh thì thành chúng sanh, tâm niệm Phật nhất định thành Phật.

Ngoài ra, Phật tử phải là người tiên phong trong phong trào "rủ người niệm Phật", khuyên mọi người bỏ ác làm lành. Đó là góp phần xây dựng thế giới Tây phương Cực Lạc ngay trong mỗi gia đình. Một gia đình biết niệm Phật là gia đình ấy đang sống trong Tịnh độ.

Như vậy, với tịnh nghiệp tam phước, hành giả pháp môn Tịnh độ nói riêng, Phật tử nói chung, đã đưa Phật pháp vào đời một cách linh hoạt, uyển chuyển như thêm một loài hoa quý vào vườn hoa văn hóa, đạo đức của dân tộc. Chính vì vậy mà nhiều khi người ta không tìm ra ranh giới giữa đạo Phật và đạo làm con trong dân tộc Việt Nam: "Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới là chân tu". Tịnh nghiệp tam phước làm phát khởi tâm Bồ đề, cái tâm Phật nơi mỗi con người bằng cách làm cho con người ấy biết giữ gìn truyền thống văn hóa đạo đức, trở thành người có văn hóa đạo đức trước.

Cho nên, hành giả niệm Phật đưa Phật pháp vào đời như đưa đứa con hoang về lại với gia đình, với quê hương. Một đời đã đi hoang nay về lại với quê hương thì không thích thú nào bằng, ở đó người ta tìm lại cảm giác thân quen, ấm áp của tình người. Cũng vậy, hành giả pháp môn Tịnh độ cũng đưa mình, đưa người về quê hương Cực Lạc, ở đó chúng sanh tìm thấy lại chính mình. (Nguồn: Giác Ngộ 258)

Source:  Chuyển Pháp Luân      Jan 11, 2005